GIÁO TRÌNH LỚP QUẢN LÝ CHẤT THẢI SINH HOẠT

Thảo luận trong 'TÀI LIỆU CTR' bắt đầu bởi h2t830326, 1/10/09. Trả lời: 1 / Đọc: 2,526

  1. h2t830326

    Member
    + Nơi ở:
    + Giới tính: Nữ
    CHƯƠNG 1

    GIỚI THIỆU CHUNG​




    1.1 CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

    Hiện nay, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị đang là vấn đề nan giải đối với nhiều địa phương trong cả nước. Với khối lượng phát sinh lớn nhưng tỷ lệ thu gom còn hạn chế, chất thải rắn sinh ra chưa được thu gom và xử lý triệt để là nguồn gây ô nhiễm cả ba môi trường: đất, nước và không khí. Tại các bãi đổ rác, nước rò rỉ và khí bãi
    rác là mối đe dọa đối với nguồn nước mặt và nước ngầm trong khu vực. Khối lượng chất
    thải rắn của các khu đô thị ngày càng gia tăng nhanh chóng theo tốc độ gia tăng dân số,
    và phát triển kinh tế xã hội. Lượng chất thải rắn nếu không được xử lý tốt sẽ dẫn đến hàng loạt các hậu quả môi trường không thể lường trước được.

    Theo Nhuệ và cộng sử (2001:6), “tổng lượng rác thải sinh hoạt thải ra hàng ngày ở các
    đô thị nước ta vào khoảng 9000 m3 (năm 1999), nhưng mới chỉ thu gom được 45-50%”.
    Khối lượng chất thải rắn của thành phố Hồ Chí Minh 9 tháng đầu năm 2003 được trình bày trong Bảng 1.1 và Bảng 1.2.

    Bảng 1.1 Khối lượng chất thải rắn đô thị của thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1983 đến năm 2003


    Năm Rác Xà bần Tổng lượng chất thải rắn
    (tấn/năm) (tấn/ngày) (tấn/năm) (tấn/ngày) (tấn/năm) (tấn/ngày)
    1983 181.802 498
    1984 180.484 494
    1985 202.925 556
    1986 202.483 555
    1987 198.012 542
    1988 236.982 649
    1989 310.214 850
    1990 390.610 107
    1991 491.182 1.346
    1992 424.807 1.164 191.600 525 616.407 1.689
    1993 562.227 1.540 276.608 758 838.835 2.298
    1994 719.889 1.972 285.529 782 1.005.418 2.755
    1995 978.084 2.680 329.534 903 1.307.618 3.583
    1996 1.058.488 2.900 346.857 950 1.405.345 3.850
    1997 983.811 2.695 190.121 521 1.173.972 3.216
    1998 939.943 2.575 246.685 676 1.186.628 3.251
    1999 1.066.272 2.921 312.659 857 1.378.931 3.778
    2000 1.172.958 3.214 311.005 852 1.483.963 4.066
    2001 1.369.358 3.752 344.451 944 1.713.809 4.695
    2002 1.568.477 4.297 385.763 1.058 1.959.595 5.443
    2003 1.662.849 4.619 394.732 1.096 2.063.296 5.731

    Bảng 1.2 Khối lượng chất thải rắn đô thị của thành phố Hồ Chí Minh năm 2002


    Quận/Huyện Rác sinh hoạt Xà bần Tổng lượng chất thải rắn
    (tấn/năm) (tấn/ngày) (tấn/năm) (tấn/ngày) (tấn/năm) (tấn/ngày)
    Quận 1 81.289 223 72.003 197 153.712 427
    Quận 2 53279 146 6076 17 59.518 165
    Quận 3 68.721 188 45.595 125 114.629 318
    Quận 4 144.233 395 9.301 25 153.954 428
    Quận 5 44.416 122 45.587 125 90.250 251
    Quận 6 81.710 224 25.765 71 107.770 299
    Quận 7 59.644 163 - - 59.807 166
    Quận 8 97.209 266 7.251 20 104.746 291
    Quận 9 50.980 140 - - 51.120 142
    Quận 10 127.834 350 89.369 245 217.798 605
    Quận 11 148.699 407 28.036 77 177.219 492
    Quận 12 15.071 41 23 - 15.135 42
    Quận Bình Thạnh 95.548 262 7.937 22 103.769 288
    Quận Gò Vấp 93.057 255 14.108 39 107.459 298
    Quận Phú Nhuận 91.342 250 14.935 41 106.568 296
    Quận Tân Bình 144.851 397 8.153 22 153.423 426
    Quận Tân Phú MTL MTL MTL MTL MTL MTL
    Quận Thủ Đức 75.172 206 10.892 30 86.300 240
    Quận Bình Tân MTL MTL MTL MTL 0 0
    Huyện Bình
    Chánh
    40.801
    112
    -
    -
    40.913
    114
    Huyện Củ Chi 20.505 56 - - 20.561 57
    Huyện Cần Giờ 5.840 16 - - 5.856 16
    Huyện Hóc Môn 22.481 62 732 2 23.277 65
    Huyện Nhà Bè 5.795 16 - - 5.811 16
    Tổng cộng 1.568.477 4.297 385.763 1.058 1.959.595 5.443
    Nguồn: Công ty Môi Trường Đô Thị Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
    (-): không có giá trị; MTL: mới thành lập.

    Trước năm 1990, phương pháp chôn lấp đã tỏ ra có hiệu quả ở thành phố Hồ Chí Minh
    về nhiều mặt, nhất là về mặt kinh tế (rẻ tiền) và qui trình vận hành (đơn giản). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau năm 1995, các bãi chôn lấp chất thải rắn đô
    thị của thành phố Hồ Chí Minh đã bộc lộ rất nhiều nhược điểm, ảnh hưởng nghiêm trọng
    đến môi trường sống và quá trình vận ổn định, an toàn của các bãi chôn lấp. Các nhược điểm này có nhiều khía cạnh chung với các nước phát triển trên thế giới, nhưng cũng có nhiều khác biệt do điều kiện khí hậu, sinh hoạt, kinh tế, quản lý và vận hành bãi chôn lấp. Sau gần 20 năm vận hành, các bãi chôn lấp ngày càng bộc lộ rất nhiều nhược điểm, đặc biệt khi khối lượng chất thải rắn tăng lên quá một mức nào đó (thường là mức chịu được của môi trường), nhiều sự cố môi trường đã xảy ra, như mùi hôi thối ảnh hưởng trên phạm vi rộng lớn từ bãi chôn lấp, sự cố tràn bờ nước rò rỉ có nồng độ ô nhiễm cao, ruồi

    muỗi và các loại côn trùng, và thành phố Hồ Chi Minh luôn luôn phải giải quyết các sự
    cố trên. Bên cạnh đó, khi các bãi chôn lấp bị lấp đầy thành phố lại phải đi tìm các địa
    điểm để xây dựng các bãi chôn lấp mới trong điều kiện đất đai ngày càng khó khăn và đắt
    đỏ. Như vậy, trong khi các nguồn ô nhiễm cũ (bãi chôn lấp) chưa giải quyết xong thì lại phát sinh thêm các nguồn ô nhiễm mới. Hơn nữa, các bãi chôn lấp cũ không những tiếp
    tục chiếm diện tích lớn và phải bỏ hoang hàng chục năm (do không thể sử dụng được cho đến khi chất thải rắn phân hủy hết), mà còn tiếp tục là các điểm gây ô nhiễm lâu dài (vài chục năm), rất tốn kém trong công tác quan trắc và duy tu.

    1.2 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ

    Quản lý chất thải rắn là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, tồn trữ, tho gom, trung chuyển
    và vận chuyển, xử lý và đổ chất thải rắn theo phương thức tốt nhất cho sức khỏe cộng đồng, kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn, cảm quan và các vấn đề môi trường khác. Quản lý thống nhất chất thải rắn là việc lựa chọn và áp dụng kỹ thuật, công nghệ và chương trình quản
    lý thích hợp nhằm hoàn thành mục tiêu đặc biệt quản lý chất thải rắn. Một cách tổng quát,
    sơ đồ hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn đô thị được trình bày tóm tắt trong Hình 1.1.


    Nguoàn phaùt sinh



    Toàn tröõ taïi nguoàn



    Thu gom
    (heûm vaø ñöôøng phoá)



    Trung chuyeån &
    vaän chuyeån

    Taùi sinh, taùi cheá
    & xöû lyù




    Baõi choân laáp


    Hình 1.1 Sơ đồ tổng quát hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị (Tchobanoglous và cộng sự,
    1993).

    Nguồn Phát Sinh. Nguồn chủ yếu phát sinh chất thải rắn đô thị bao gồm: (1) từ các khu dân cư (chất thải rắn sinh hoạt), (2) các trung tâm thong mại, (3) các công sở, trường học, công trình công cộng, (4) dịch vụ đô thị, sân bay, (5) các hoạt động công nghiệp, (6) các hoạt động xây dựng đô thị, (7) các trạm xử lý nước thải và từ các đường cống thoát nước của thành phố.

    Tồn Trữ Tại Nguồn. Chất thải rắn phát sinh được lưu trữ trong các loại thùng chứa khác nhau tùy theo đặc điểm nguồn phát sinh rác, khối lượng rác cần lưu trữ, vị trí đặt thùng chứa, chu kỳ thu gom, phương tiện thu gom,… Một cách tổng quát, các phương tiện thu chứa rác thường được thiết kế, lựa chọn sao cho thỏa mãn các tiêu chuan sau: (1) chống
    sự xâm nhập của súc vật, côn trùng, (2) bền, chắc, đẹp và không bị hư hỏng do thời tiết,
    (3) dễ cọ rửa khi cần thiết.

    Thu Gom. Rác sau khi được tập trung tại các điểm quy định sẽ được thu gom và vận chuyển đến trạm trung chuyển/trạm xử lý hoặc bãi chôn lấp. Theo kiểu vận hành, hệ thống thu gom được phân loại thành: (1) hệ thống thu gom container di động: loại cổ điển
    và loại trao đổi thùng chứa và (2) hệ thống thu gom container cố định.

    Trung Chuyển và Vận Chuyển. Các trạm trung chuyển được sử dụng để tối ưu hóa năng suất lao động của đội thu gom và đội xe. Trạm trung chuyển được sử dụng khi: (1) xảy ra hiện tượng đổ chất thải rắn không đúng quy định do khoảng cách vận chuyển quá xa, (2)
    vị trí thải bỏ quá xa tuyến đường thu gom (thường lớn hơn 16 km), (3) sử dụng xe thu gom có dung tích nhỏ (thường nhỏ hơn 15 m3), (4) khu vực phục vụ là khu dân cư thưa thớt, (5) sử dụng hệ thống container di động với thùng chứa tương đối nhỏ để thu gom chất thải từ khu thương mại. Hoạt động của mỗi trạm trung chuyển bao gồm: (1) tiếp nhận các xe thu gom rác, (2) xác định tải trọng rác đưa về trạm, (3) hướng dẫn các xe đến
    điểm đổ rác, (4) đưa xe thu gom ra khỏi trạm, (5) xử lý rác (nếu cần thiết), (6) chuyển rác
    lên hệ thống vận chuyển để đưa đến bãi chôn lấp. Đối với mỗi trạm trung chuyển cần xem xét: (1) số lượng xe đồng thời trong trạm, (2) khối lượng và thành phần rác được thu gom về trạm, (3) bán kính hiệu quả kinh tế đối với mỗi loại xe thu gom, (4) thời gian để
    xe thu gom đi từ vị trí lấy rác cuối cùng của tuyến thu gom về trạm trung chuyển.

    Tái Sinh, Tái Chế Và Xử Lý. Rất nhiều thành phần chất thải rắn trong rác thải có khả
    năng tái sinh, tái chế như: giấy, carton, túi nilon, nhựa, cao su, da, gỗ, thủy tinh, kim loại,
    … Các thành phần còn lại, tùy theo phương tiện kỹ thuật hiện có sẽ được xử lý bằng các phương pháp khác nhau như: (1) sản xuất phân compost, (2) đốt thu hồi năng lượng hay
    (3) đổ ra bãi chôn lấp.

    Bãi Chôn Lấp. Bãi chôn lấp là phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn kinh tế nhất
    và chấp nhận được về mặt môi trường. Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm lượng chất thải, tái sinh, tái sử dụng và cả các kỹ thuật chuyển hóa chất thải, việc thải bỏ phần chất thải còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu quan trọng trong chiến lược quản lý thống nhất chất thải rắn. Một bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt được gọi là bãi chôn lấp hợp vệ sinh khi được thiết kế và vận hành sao cho giảm đến mức thấp nhất các tác động đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. Bãi chôn lấp hợp vệ sinh được thiết kế và vận hành có lớp lót đáy, các lớp che phủ hàng ngày và che phủ trung, có hệ thống thu gom và
    xử lý nước rò rỉ, hệ thống thu gom và xử lý khí thải, được che phủ cuối cùng và duy tu,
    bảo trì sau khi đóng bãi chôn lấp.
    #1