Ứng dụng Gom Rác GRAC

Bạn biết gì về Copenhagen 2009 ?

daibangxanh

Well-Known Member
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Hội nghị Copenhagen là gì ?



Vào năm 1992, đa số các nước trên thế giới đã đặt bút ký vào Công ước khung về biến đổi khí hậu của LHQ. Tuy không mang tính pháp lý bắt buộc, công ước đã vạch ra nhiều phác thảo để các thành viên bình ổn và giảm các hoạt động tạo ra nhiều khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Sau nhiều năm đàm phán căng thẳng, các nước thành viên đã tìm ra một thỏa thuận về việc làm thế nào đưa những nguyên tắc trên vào hành động. Nghị định thư Kyoto, chính thức được thông qua vào tháng 12 năm 1997, xác định mục tiêu rõ ràng về giảm khí thải nhưng lại chỉ áp dụng đối với 37 nước công nghiệp hóa với những mức khác nhau.

189 quốc gia đã ký phê chuẩn Nghị định thư Kyoto nhưng Mỹ vẫn vắng mặt trong danh sách này. Thực tế, Mỹ đã ký nghị định thư, vốn có hiệu lực hồi tháng 2.2005, nhưng chưa bao giờ phê chuẩn cũng như rút khỏi nó.

Hội nghị các bên (COP), cơ quan quyết định cao nhất của UNFCCC, tổ chức các cuộc họp môi trường hàng năm với mục tiêu đưa nghị định Kyoto đi đúng hướng. Và cuộc họp lần thứ 15 (còn gọi là COP15) năm nay được tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch

Tại sao thế giới phải hành động khẩn cấp ?

Các nhà khoa học khí hậu tin rằng, nhiệt độ toàn cầu cần phải giữ không được vượt thêm 2 độ C nữa để ngăn ngừa những thảm họa môi trường diện rộng như mực nước biển tăng và khô hạn.

Nhiệt độ của thế giới ước tính đã tăng thêm 0,74 độ C trong một thế kỷ qua theo như Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Theo một nghiên cứu khác của các nhà khoa học Anh, nếu không can thiệp, nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng tới 4 độ vào năm 2060.

Tháng 7.2009, trong cuộc họp tại Italy, nhóm G8 đã đạt được thỏa thuận về mức tăng hạn chế 2 độ C khi bối cảnh khí hậu biến đổi. Trong khi các chuyên gia vỗ tay hoan hô mục tiêu thì các nước lại chẳng đạt được sự đồng thuận về việc hoàn thành mục tiêu đó.

Quả thực việc giữ cam hết sẽ không dễ đối với G8. Dựa trên những phát hiện của IPCC, EU cho rằng, lượng khí thải toàn cầu sẽ lên tới đỉnh điểm vào năm 2020, do đó phải làm giảm ít nhất một nửa mức khí thải của năm 1990 vào giữa thế kỷ này thì may ra mới tránh được nhiệt độ trái đất tăng quá 2 độ C.

Mục tiêu tối thượng của COP15 là gì ?

Mục tiêu ban đầu là tìm thỏa thuận thay thế cho Nghị định thư Kyoto vốn sẽ hết hạn vào cuối năm 2012. Cộng đồng quốc tế từng đặt tháng 12 này làm thời hạn chót để đạt điều đó. Tuy nhiên, sự rạn nứt giữa những nước phát triển và đang phát triển về vấn đề khí thải đã làm nản lòng mọi kỳ vọng vào Hội nghị Copenhagen.

Hy vọng hiện nay là tìm ra sự nhất trí về một thỏa thuận mang tính pháp lý, từ đó tạo ra chiếc khung cho một Hiệp định chính thức hơn sẽ được xem xét vào cuối năm sau.

PV- Theo CBC​
 
#2
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Tôi và biến đổi khí hậu

TT - Những thắc mắc sau đây về vấn đề khí hậu thoạt nghe đơn giản nhưng lại là chuyện không phải ai cũng biết. Báo The Telegraph (Anh) giải đáp cho những câu hỏi này.

* Tôi cứ nghĩ là không có gì chứng minh thực trạng ấm dần lên của Trái đất do con người gây ra?

- Hơn hai năm trước, Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã đưa ra kết quả sau 5 năm nghiên cứu khẳng định bằng chứng của sự ấm lên của Trái đất là rõ rệt và 90% là do con người gây ra.

* Cứ cho giả thuyết đó là thật thì điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta tiếp tục gây ô nhiễm như hiện nay?

- Theo ước đoán, nhiệt độ Trái đất sẽ tăng thêm khoảng 4OC vào năm 2060, tức là trong 50 năm tới, đủ để thay đổi rất nhiều hoàn cảnh thực tại. Băng ở hai đầu cực sẽ tan khiến mực nước biển dâng cao nhấn chìm các thành phố nằm bên bờ biển.

* Liệu nó có ảnh hưởng trực tiếp tới tôi không?

- Đương nhiên sẽ ảnh hưởng. Những người “tị nạn vì khí hậu” sẽ đổ xô tới những nơi, những quốc gia ít bị ảnh hưởng hơn, thực phẩm sẽ đắt đỏ hơn. Bão tố nhiều hơn, mạnh hơn, dịch bệnh hoành hành, bản sắc văn hóa thay đổi và nhiều quốc gia sẽ dần biến mất khỏi bản đồ thế giới...

* Tệ quá nhỉ. Chúng ta có thể làm gì?

- Hầu hết các nhà khoa học nói chúng ta cần phải cắt giảm khí thải nhanh chóng. IPCC nhận định thế giới phải cắt giảm 50% khí thải vào năm 2050 để giữ nhiệt độ tăng ở mức an toàn là khoảng 2OC. Như vậy, các nước phát triển phải cắt 80% khí thải và ít nhất là 25% vào năm 2020. Các nước nghèo cũng phải chung tay hành động.

Cá nhân thì không nhất thiết phải chuyển tới sống trong hang động như thời ăn lông ở lỗ. Có những hành động đơn giản hơn mà chúng ta có thể làm như tắt bớt đèn, tắt lò sưởi / máy lạnh và ít đi xe hơn. Hoặc ăn ít thịt hơn cũng là một cách.

* Nhưng liệu có tác dụng gì nếu Trung Quốc mỗi tuần xây thêm một nhà máy điện chạy bằng than mới?

- Đây đúng là vấn đề cần tính tới. Trung Quốc đang tăng trưởng quá nhanh và thế giới đang thuyết phục nước này và các nước đang phát triển khác cùng chung tay giảm khí thải. Nhưng Trung Quốc cho rằng họ không cần phải hạn chế tăng trưởng kinh tế vì đây là cách để giúp hàng triệu người thoát nghèo, trong khi ngày xưa Trung Quốc không gây ra khí thải như các nước công nghiệp. Vì vậy cuộc thương thuyết vẫn đang rất căng thẳng.

* Giảm khí thải carbon có thay đổi đời sống của tôi không?

- Có. Thuế đối với khí thải sẽ khiến giá điện tăng cao, chi phí cho các chuyến bay sẽ đắt đỏ hơn. Tuy nhiên, có mặt tốt hơn là ô nhiễm sẽ giảm. Tương lai của hành tinh, nơi duy nhất mà loài người có thể sinh sống, sẽ được đảm bảo tồn tại lâu dài.

HẠNH NGUYÊN (Theo The Telegraph)
 
#3
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Tạm ngưng đàm phán Copenhagen

TT - Đàm phán tại Hội nghị LHQ về biến đổi khí hậu Copenhagen đã buộc phải tạm ngưng sáng qua (giờ địa phương) sau khi các nước châu Phi rút khỏi bàn đàm phán.

Theo BBC, đại biểu các nước nghèo đã tức giận khi thấy Chính phủ Đan Mạch tìm cách loại bỏ các đàm phán về cắt giảm khí thải dựa trên nghị định thư Kyoto. Động thái của châu Phi sau đó đã được các nước G77 (thực tế là 130 nước nghèo) cùng ủng hộ. Ngay khi tin này lộ ra, những nhà hoạt động vì môi trường đã cùng diễu hành hô vang “Chúng ta đoàn kết với châu Phi - mục tiêu Kyoto ngay lúc này”.

Trong lúc này, các cuộc tiếp xúc không chính thức vẫn đang tiếp tục nhằm nối lại đàm phán. Các nước nghèo cho đến nay vẫn muốn các nước giàu duy trì những cam kết cắt giảm từng đạt được theo nghị định thư Kyoto. EU và các nước giàu trong khi đó lại muốn ký kết một thỏa thuận hoàn toàn mới để thay thế nghị định thư Kyoto - điều khiến nhiều nước nghèo lo sợ họ sẽ mất những thành quả từng đạt được tại thỏa thuận năm 1997.

Các nước nghèo chỉ ra rằng nghị định thư Kyoto là thỏa thuận quốc tế duy nhất mang tính ràng buộc pháp lý về cắt giảm khí thải. Ngoài ra, đó là thỏa thuận duy nhất có các cơ chế đem lại lợi ích cho các nước nghèo như tiền tài trợ cho những dự án năng lượng sạch. Tại cuộc gặp trước đó, các nước nghèo cáo buộc nước chủ nhà Đan Mạch đã phớt lờ mối lo ngại này.

Kim Carstensen, giám đốc sáng kiến khí hậu toàn cầu của WWF, cho rằng các nước nghèo e sợ một thỏa thuận khác đang được tiến hành sau lưng họ. “Chúng ta đang mất thời gian, đó là vấn đề nghiêm trọng, cứ mỗi phút chúng ta mất, cơ hội để giải quyết rốt ráo các vấn đề tiếp theo càng thu hẹp” - ông nói.

THANH TUẤN (Theo BBC, Reuters)
 
#4
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Hội nghị Copenhagen: Điều gì đang lâm nguy?
Tác giả: Ngô Quốc Trung


Cùng với nỗ lực để phát triển kĩ năng và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, một kế hoạch chiến lược dài hạn để giải quyết thách thức khí hậu bao gồm sự sụt giảm nghiêm trọng về đất nông nghiệp do nước biển dâng nên được xem là ưu tiên cao cho Việt Nam.

Ông Ngô Quốc Trung, nguyên là cố vấn kinh tế cao cấp của Ngân hàng thế giới có bài viết bàn về những vấn đề mà COP15 và các nhà lãnh đạo các nước trên thế giới đang phải đối mặt để ứng phó với "một trong những thách thức lớn nhất mà loài người phải đối mặt": biến đổi khí hậu. Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của ông.

Hội nghị Copenhagen bàn gì?

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất mà loài người phải đối mặt. Sự gia tăng lượng khí gây hiệu ứng nhà kính, chủ yếu là CO2 là hệ quả của việc kết hợp các yếu tố: ảnh hưởng của tăng trưởng, công nghiệp hóa và xu hướng sử dụng hydrocarbon ngày càng gia tăng chủ yếu ở các nhà máy năng lượng và trong vận tải.

Được đo lường bằng đơn vị ppm, lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính ra môi trường (giữ nhiệt và gây ra hiện tượng nóng lên của trái đất) đã tăng từ 285 ppm năm 1850 lên 430 ppm hiện nay, trong đó khoảng 70% lượng phát thải diễn ra vào nửa cuối thế kỉ 20.

Lượng phát thải đã tăng khoảng 2.5 ppm mỗi năm trong thập kỉ qua và được dự đoán sẽ tăng thậm chí nhanh hơn với ảnh hưởng của sự tăng trưởng nhanh ở các nền kinh tế đang phát triển, và chủ yếu ở các nền kinh tế mới nổi.

Hội nghị Biến đổi khí hậu ở Copenhagen nhằm mục tiêu duy trì mức phát thải khoảng 450 ppm, con số mà các nhà khoa học tin rằng sẽ giúp giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu khoảng 2oC đến cuối thế kỉ này. Điều này đòi hỏi các Chính phủ đến dự hội nghị Copenhagen phải cùng tiến lên đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu bằng việc tạo nên sự chuyển đổi nhanh chóng đến một nền kinh tế ít carbon và để ngăn ngừa viễn cảnh tồi tệ nhất có thể trở thành sự thật.

Vấn đề về sự công bằng

Các nước phát triển với dân số chiếm một phần sau nhân loại à nguồn gốc gây nên khoảng 70% lượng phát thải kể từ năm 1950.


Tính theo đầu người, trung b:Sick:ình mỗi người dân ở các nước công nghiệp đã phát thải ra khoảng 12 tấn CO2 mỗi năm. Lượng phát thải bình quân đầu người ở tất cả các nước đang phát triển thấp hơn rất nhiều nhưng đang tăng lên nhanh chóng, từ 1 tấn lên 4 tấn mỗi năm kể từ giữa những năm 1970.

Mức trung bình này chưa tính đến sự khác biệt lớn giữa các nước đang phát triển. Trong khi Trung Quốc trở thành quốc gia có lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất kể từ năm 2005, thì các nước đang phát triển có lượng phát thải ít nhất, bao gồm hầu hết châu Phi phát thải trung bình chỉ 0,2 tấn mỗi người mỗi năm, nghĩa là chưa bằng 2% lượng phát thải trung bình của một người ở nước phát triển.

Hơn nữa, trong khi là người chịu trách nhiệm ít nhất cho lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong môi trường, các nước thu nhập thấp lại chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng biến đổi khí hậu và có năng lực đối phó với thách thức này yếu nhất.

Vì những lí do kể trên, Công ước khung của LHQ về Biến đổi khí hậu, một hiệp định quốc tế về môi trường được thống nhất tại Hội nghị thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janerio năm 1992 đã xây dựng nên nguyên tắc "trách nhiệm chung nhưng có sự phân biệt" giữa các quốc gia thành viên. Gần đây hơn, "trả món nợ khí hậu" đã được sử dụng như là điểm quy tụ cho đòi hỏi hành động của các nước phát triển làm giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu

Diễn tiến đàm phán và điều đạt được tại Bali năm 2007

Kể từ khi Công ước khung về biến đổi khí hậu của LHQ đi vào triển khai, các quốc gia thành viên tổ chức các cuộc gặp hàng năm tại Hội nghị của các bên tham gia, hay còn gọi là COP. Ở Kyoto năm 1997, COP3 đã thông qua Nghị định thư Kyoto theo đó, 37 nước phát triển, được biết đến như là các nước trong Phụ lục I đã cam kết tới năm 2008 - 2012 sẽ giảm trung bình lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính dưới 5,2% so với mức phát thải năm 1990.

Đến tháng 11 năm 2009, đã có 187 quốc gia kí và thông qua Nghị định thư. Quốc gia đáng lưu tâm nhất nằm ngoài Kyoto là Mỹ, nước chịu trách nhiệm tới 36% lượng khí phát thải nhà kính tới năm 1990.

Mỗi nước nằm trong Phụ lục I được yêu cầu đưa ra bản báo cáo hàng năm về lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính ở tất cả các lĩnh vực gây hiện tượng này cũng như số lượng cắt giảm theo Công ước khung về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto.

Các quốc gia đang phát triển, bao gồm cả những nền kinh tế lớn đang nổi ngày nay, không bị ràng buộc pháp lí về việc thực hiện theo cam kết của Nghị định thư Kyoto.

Với việc đạt được Nghị định thư Kyoto, các đàm phán về khí hậu đã được tiến hành ở hai kênh song song: i) Kênh Nghị định thư Kyoto giám sát việc triển khai các cam kết mang tính ràng buộc pháp lý của các nước phát triển về việc cắt giảm lượng phát thải và ii) Kênh Công ước khung bao trùm tất cả các khía cạnh khác của biến đổi khí hậu, bao gồm nỗ lực giảm nhẹ gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, cung cấp tài chính, chuyển giao kĩ thuật và xây dựng năng lực ở các nước đang phát triển.

Tại Bali năm 2007, các quốc gia đã thống nhất thời gian biểu và khung đàm phán cấu trúc chung hướng tới một tầm nhìn chung sẽ được hoàn thành vào năm 2009.

Tầm nhìn chung thể hiện một loạt các hành động toàn diện về khí hậu dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: i) các nước phát triển giữ vai trò chủ đạo trong việc cắt giảm lượng phát thải; ii) các nước đang phát triển, đặc biệt là các nền kinh tế đang nổi, đồng ý đóng góp vào nỗ lực giảm nhẹ toàn cầu; iii) sự tham gia đặc biệt, được viện trợ tài chính, của các nước kém phát triển, những nước cần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mình và không phải là chủ thể của các cam kết giảm nhẹ sự gia tăng phát thải; và iv) các nước phát triển cung cấp hỗ trợ tài chính, kĩ thuật và xây dựng năng lực bổ sung có thể dự đoán được để giúp các nước đang phát triển thích ứng với biến đổi khí hậu và hạn chế sự gia tăng phát thải ở các nước này.

Tại sao việc đạt được một thỏa thuận mới năm nay lại quan trọng?

Trước hết, Nghị định thư Kyoto có sự ràng buộc pháp lý cho phép quản lý việc cắt giảm lượng phát thải ở các nước phát triển sẽ hết hiệu lực vào năm 2012. Một thỏa thuận mới đầy tham vọng cần phải đi đến thống nhất trong năm nay để Chính phủ ở các quốc gia có thời gian thông qua hiệp định mới đúng thời hạn để đi vào triển khai vào năm 2013.

Một thỏa thuận mới cần có những hành động mạnh mẽ ở 4 lĩnh vực chủ chốt: 1) Mục tiêu cắt giảm lượng phát thải đầy tham vọng đối với các nước phát triển; 2) Làm rõ các hành động giảm nhẹ của các nước đang phát triển lớn; 3) Sự hỗ trợ kĩ thuật và tài chính quy mô lớn để giúp thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ ở các nước đang phát triển; và 4) Làm thế nào để các nguồn lực tài chính và hỗ trợ kĩ thuật được quản lý một cách hiệu quả.

Hai vấn đề đang chiếm giữ hầu hết sự quan tâm của các nhà đàm phán về khí hậu chính là mức độ tham vọng của các cam kết cắt giảm lượng phát thải ở các nước phát triển và việc chia sẻ nỗ lực giảm nhẹ toàn cầu tại các nước đang phát triển lớn và liệu các nước giàu có thể đi đến một cơ chế cung cấp tài chính hiệu quả để giúp các nước đang phát triển đối mặt với thách thức khí hậu và tham gia vào nỗ lực giảm nhẹ toàn cầu.

Mục tiêu cắt giảm của các nước phát triển cần tham vọng hơn

Thông tin khoa học cho thấy rằng, để duy trì phát thải ở mức 450 ppm, lượng phát thải của các nước phát triển cần giảm từ 25-40% vào năm 2020 và giảm từ 50-80% vào năm 2050 so với mức phát thải của năm 1990.

Tới thời điểm này, EU là nhóm quốc gia phát triển duy nhất đã đưa ra cam kết chính thức về việc cắt giảm lượng phát thải carbon tới năm 2020 là 20% so với mức phát thải năm 1990 và một lựa chọn bổ sung về việc cắt giảm lớn hơn, ở mức 30% nếu được đảm bảo rằng sẽ được đáp lại bằng nỗ lực của các quốc gia phát triển khác.

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố sẽ giảm lượng phát thải của Mỹ năm 2020 xuống 17% so với mức phát thải năm 2005. Tuyên bố này không chỉ quá khiêm tốn nếu so với cam kết của EU mà còn không có bất kì điều gì đảm bảo rằng cam kết sẽ được Quốc hội Mỹ thông qua.

Người ta kì vọng rằng như một phần của việc đàm phán, những cam kết cắt giảm phát thải của các nước phát triển sẽ chỉ được đưa ra vào cuối tuần này.

Việc thiếu vắng các hành động mạnh mẽ từ các nước phát triển sẽ đặt ra mối quan ngại lớn hơn về việc các cam kết cắt giảm lượng phát thải của các nước phát triển sẽ cách xa so với yêu cầu phải đạt.

Cùng với các vấn đề kể trên, một số nước phát triển đã đề xuất về một sắp xếp mới cho khung về khí hậu bao gồm việc thay thế Nghị định thư Kyoto bằng một Nghị định thư mới với những trói buộc pháp lý nhẹ hơn gây nên mối quan ngại lớn rằng cam kết của các quốc gia phát triển về cắt giảm lượng phát thải đang giảm dần.

Làm rõ trách nhiệm của nước đang phát triển - một vấn đề nguy cấp

Bởi vì các nước đang phát triển sẽ góp vào việc gia tăng lượng phát thải toàn cầu trong tương lai, tại Bali, các nền kinh tế mới nổi đã ngỏ ý về sự sẵn sàng hành động để hạn chế sự gia tăng phát thải, đổi lại bằng việc họ nhận được hỗ trợ tài chính và kĩ thuật tương ứng từ các nước phát triển. Cam kết của Trung Quốc để cắt giảm cường độ phát thải, lượng phát thải trên mỗi đơn vị sản xuất, khoảng 40-45% vào năm 2020 so với cường độ phát thải vào năm 2005, là một minh chứng cho điều đó.

Nhưng đến nay, Trung Quốc vẫn từ chối đưa ra hành động để có thể giám sát quốc tế về vấn đề tranh cãi này, dựa trên nguyên tắc đã được thống nhất tại Nghị định thư Kyoto rằng các nước đang phát triển không phải là chủ thể của việc cam kết pháp lý bắt buộc.

Nhìn chung, các nước đang phát triển có những quan ngại rằng việc tiến hành giảm nhẹ sẽ lấy đi các nguồn lực dành cho nhu cầu phát triển khác, và hạn chế khả năng tiếp cận năng lượng của họ. Điều này dẫn tới xu hướng chỉ trích rằng các nước phát triển đang chuyển phần trách nhiệm giảm nhẹ sự gia tăng phát thải sang tay các nước đang phát triển.

Hỗ trợ tài chính cho nước nghèo quá khiêm tốn

Vào thời điểm này, chi phí thích ứng trước hết do nước chịu tác động của biến đổi khí hậu gánh chịu dù họ không có trách nhiệm với việc phát thải trong quá khứ.

Quy mô cụ thể về nhu cầu tài chính cho hành động ứng phó với biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển đến nay vẫn chưa rõ nhưng dự toán lên tới 250 tỷ USD vào năm 2020.

Quyết định của EU cuối tuần trước về việc cung cấp 3.5 tỷ USD mỗi năm là bước đi đầu tiên để tiến tới một bước khởi đầu của sáng kiến cung cấp tài chính khởi động nhanh trị giá 10 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2010-2012.

Các nước phát triển khác được trông đợi sẽ theo chân EU trong những ngày tới.

Bất chấp một sự khởi đầu hữu ích này, sáng kiến cung cấp tài chính khởi động nhanh vẫn còn xa mới đạt mức yêu cầu phải có và rất xa so với nhu cầu tài chính của các nước đang phát triển.

Hơn nữa, cũng cần làm rõ việc liệu các nước lớn đang nổi có thể tiếp cận các nguồn lực này hay không, như đã được thể hiện trong những cuộc trao đổi gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc. Trung Quốc vừa tuyên bố sẽ không nhận tiền hỗ trợ tài chính để giúp giảm mức phát thải.

Như một phần của nỗ lực giảm nhẹ, các cuộc đàm phán đang tiếp diễn ở Copenhagen đang thể hiện một cách rõ ràng sự khác biệt giữa các nước đang phát triển liên quan đến tài chính.

Một khuôn khổ giải ngân hiệu quả cho nước nghèo

Bất chấp những cam kết hỗ trợ tài chính lâu dài cho hành động ứng phó với biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển, thực tế chỉ một nguồn lực tài chính hết sức hạn chế đã được đưa ra. Phần lớn nguồn lực đã đổ vào hoạt động giảm nhẹ trong khi việc cung cấp tài chính cho thích ứng với biến đổi khí hậu đang là nhu cầu cấp thiết hơn theo quan điểm của các nước đang phát triển.

Việc thích ứng cũng đòi hỏi sự sắp xếp cấu trúc mới cho phép tiếng nói lớn hơn của các nước đang phát triển trong việc phân phối và giải ngân quỹ khí hậu dưới sự bảo hộ của LHQ.

Trông đợi...

Xóa được khoảng cách giữa các quan điểm khác biệt trong những vấn đề nêu trên vẫn là đòi hỏi quá cao. Sự có mặt của khoảng 100 vị nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo chính phủ các nước cuối tuần này sẽ tạo nên động lực thúc đẩy bổ sung cho các nhà đàm phán đi đến một thỏa thuận.

Với những gì đang diễn ra hiện nay, viễn cảnh dễ thấy nhất là ra đời một thỏa thuận về một thỏa ước "trói buộc chính trị" tạo điều kiện dẫn tới một hiệp định "trói buộc pháp lý" cụ thể được đưa ra vài tháng sau.

Đối với các quốc gia như Việt Nam, một trong những nước chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nặng nề nhất (Việt Nam xếp thứ 6 về mức độ rủi ro do khí hậu, được tính bằng số người chết và thiệt hại vật chất trong vào 10 năm (1997-2007) và TP HCM xếp thứ 5 trong số các thành phố lớn chịu rủi ro này), cùng với nỗ lực để phát triển kĩ năng và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, một kế hoạch chiến lược dài hạn để giải quyết thách thức khí hậu bao gồm sự sụt giảm nghiêm trọng về đất nông nghiệp do nước biển dâng nên được xem là ưu tiên cao.
http://www.tuanvietnam.net/2009-12-16-hoi-nghi-copenhagen-dieu-gi-dang-lam-nguy-
 
Q

quynhtrang246_vn

Guest
#5
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Tại sao mọi người chỉ gắn tuyên truyền, nêu ra vấn đề, tổ chức hội thảo mà tôi chẳng thấy hành động gì cả. Nói cho nhiều thì người dân vẫn lên rừng chặt cây, chính phủ xây thủy điện, các nước phát triển và đang phát triển vẫn là những quốc gia có lượng khí thải nhiều hơn bất kì ai.
Không phải tuyên truyền hay mọi việc những người yêu môi trường làm là vô ích. Tôi thấy rằng chúng ta vẫn chỉ đang cố gắn giải quyết cái ngọn của vấn đề. Cái gốc của vấn đề thì rất khó. Đó là nhu cầu của mỗi người.Một ví dụ nhỏ, vì mọi người cần xe và xăng để đi nên các nhà máy vẫn sản xuất xe, các tập đoàn dầu khí vẫn khai thác dầu. Xe vẫn chạy và khói vẫn nhả ra. Quốc gia muốn phát triển, mọi người cần làm việc và di chuyển nhanh hơn. Vậy thì mọi người muốn tìm ra cách thay thế những thứ ai cũng cần mà gây ô nhiễm môi trường bằng những thú không gây ô nhiễm môi trường. Nhưng những cái mà họ phát minh ra thì được bao nhiêu và đã được ửng hộ bao nhiêu. Vấn đề ở hai chữ kinh tế và những thứ có thể thay thế nhu cầu hiện tại của con người.
 
Top