Ứng dụng Gom Rác GRAC

Nước thải bọt nổi nhiều ở bể arotem

minhtu

New Member
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
em chào các anh chị . cho em xin phép hỏi mấy vấn đề , nếu anh chị nào biết mong chỉ rùm em với a.
em đang xử lý nước của công ty dệt may bằng phương pháp hiếu khí và công nghệ MBR . nhưng không hiểu sao cứ vào mùa lạnh bể hiếu khí của em bọt nổi rất nhiều, em kiểm tra ở bể COD: N : P = 60 : 3 : 0,015 . DO = 4,5mg/l
bác nào có cách khắc phục chỉ em với. hay bác náo cũng đang có những vấn đề đó nếu cần mail cho em . leminhtu26@gmail.com
 
#2
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Bro có thể mô tả rõ hơn về bọt của mình k? Trắng? Màu vàng lạt? Màu vàng sậm? Nhớt cao/thấp? Xốp?....
Bọt ở bể A có nhiều nguyên nhân.
Foaming in Activated Sludge
A brief review of activated sludge foams and their causes is given in the table below. Use of microscopic examination can readily diagnose most of these, particularly when filaments are involved.
Three filamentous organisms can cause activated sludge foaming: Nocardia and Microthrix parvicella (commonly) and type 1863 (rarely). Nocardial foaming appears to be the most common and occurs at approximately 40% of activated sludge plants in the U.S.
Nocardial foam occurs as a thick, stable, brown foam or "scum" inches to many feet thick on aeration basin and final clarifier surfaces. Normal scum traps (too small) and water sprays (too weak) may be useless to control this type of foam. This foam consists of activated sludge solids (flocs) containing large amounts of Nocardia filaments growing from their surface and is quite stable, compared to most other foams, due to the physical "interlocking" of the Nocardia filaments. These foams are easy to diagnose microscopically - they are dominated by branched, gram positive filaments and a simple gram stain of the foam is all that is needed. The ************ysis should include comparison to the underlying MLSS.
Nocardial foams occur in all types of plants, with no particular association with specific modes of operation or aeration. These foams may be more severe in plants with fine bubble or jet aeration and in oxygen activated sludge plants. These foams also occur equally in plants treating domestic, industrial and mixed wastes. Industrial wastes promoting Nocardia growth (and foaming) include dairy, meat and slaghterhouse, food processing, pharmaceutical, and any others that contain a significant amount of grease, oil or fat. Nocardial foaming is also associated with high-density restaurant operation in recreational areas. Nocardial foaming has been observed to be caused by treatment of locomotive and truck washing wastes.
Bọt ở bùn hoạt tính
Bảng tóm tắt các nguyên nhân của hiện tượng nổi bọt ở bùn hoạt tính.Sử dụng kính hiển vi có thể chẩn đoán hầu hết các trường hợp này, Đặc biệt khi vi sinh dạng sợi làm ảnh hưởng hệ thống.
Ba loại VS sợi có thể là nguyên nhân nổi bùn hoạt tính: Nocardia và Microthrix parvicella (phổ biến và gần đây loại 1863. Nocardial xuất hiện phổ biến nhất, gần 40% trong bùn hoạt tính trong các HT ở Mỹ.

Bọt vi sinh chủng Nocardial cho biểu hiện: có bề mặt dày, ổn định, bọt mầu nâu hoặc lớp bọt dày hơn 0.3m trên bể Ae hoặc bể lắng. Thông thường có thể khắc phục dạng nổi bọt này bằng những dụng cụ giữ bọt (rất nhỏ) và phun nước (nhỏ). Loại này bao gồm các chất rắn của bùn hoạt tính (mảng bùn: flocs)chứa 1 lượng lớn VS dạng sợi Nocardia phát triển từ bề mặt của chúng và hoàn toàn ổn định, so sánh với hầu hết các dạng nổi khác, giải thích theo vật lý: sự kết chặt với nhau của VS dạng sợi Nocardia. Những dạng nổi bùn bọt dễ dàng xác định được nhờ kính hiển vi – chúng bị ức chế bởi sự phân nhánh, các VS dạng sợi gam dương và 1 gam nhuộm bùn, bọt đơn giản. Sự phân tích cần thiết bao gồm so sánh với lượng MLSS ở bên dưới.
Nổi do Nocardia suất hiện trên tất cả các hệ thống, không có ngoại lệ với sự vận hành và cung cấp oxy khác nhau. Những dạng nổi này có thể mạnh hơn trong các hệ thống dùng bọt mịn hoặc vòi fun khí và trong hệ thống bùn hoạt tính hiếu khí. Các dạng nổi này cũng suất hiện ngang với các hệ thống sử lý trong gia đình, công nghiệp và hỗn hợp nước thải. Chất thải công nghiệp trong các nhà máy sữa, thịt và slagterhouse, nhà máy thực phẩm, dược, và các nhà máy khác có chất thải có chứa 1 lượng đáng kể mỡ bò, dầu hoặc chất béo thúc đẩy sự tăng trưởng Norcardia (và sự nổi bọt). Nổi bùn, bọt cũng sảy ra tại các khu giải trí có mật độ dày đặc các hiệu ăn.Nước thải dùng cho việc vệ sinh xe lửa, xe tải được theo dõi và nhận xét là nguyên nhân nổi bùn, bọt do nocardia.

Foam Description /
Cause(s)

thin, white to grey foam /
low cell residence time or "young" sludge (startup foam).

white, frothy, billowing foam /
once common due to nonbiodegradable detergents (now uncommon).

pumice-like, grey foam (ashing) /
excessive fines recycle from other processes (e.g. anaerobic digesters).

thick sludge blanket on the final clarifier(s)./
Denitrification

thick, pasty or slimy, greyish foam (industrial systems only) /
nutrient-deficient foam; foam consists of polysaccharide material released from the floc.

thick, brown, stable foam enriched in filaments./
filament-induced foaming, caused by Nocardia, Microthrix or type 1863.

Mô tả hiện tượng nổi bọt /
Nguyên nhân
lớp bọt mỏng, bạc hay trắng sậm /
Thời gian lưu VS ngắn hoặc bùn non (bắt đầu nổi bọt)
Trắng, sủi bọt, bọt nhấp nhô /
Nguyên nhân phổ biến do các chất tẩy rửa làm VS không phân hủy (hiện nay nguyên nhân này không còn phổ biến.
giống như bọt đá, bọt sậm mầu (giống như tro)/
Quá nhiều hạt tái chế từ hệ thống khác (Vi khuẩn kỵ khí)


Lớp bùn dày trên BLII/
Khử nitơ
Dày, sền sệt hoặc nhớt, bọt hơi xám (chỉ có trong các nhà máy)/
Thiếu hụt chất bổ dưỡng, bọt bao gồm of polysaccharide material giải phóng từ bông bùn sốp
Dày, nâu, bọt ổn định do VS dạng sợi./
VS dạng sợi thúc đẩy nổi bọt, nguyên nhân do Nocardia, Microthrix or type 1863.



Severe Nocardial foams cause a number of operational problems. These include aesthetics, odors, and safety hazards if they overflow basins to cover walkways and handrails. In cold weather these foams can freeze, necessitating "pick and shovel" removal. Foam may escape to the effluent, increasing effluent suspended solids and compromising disinfection. In covered aeration basins, foam can accumulate to exceed the available hydraulic head for gravity flow of wastewater through the basin. Process control can be compromised if a significant fraction of plant's solids inventory is present in the non-circulating foam.
Control Methods for Filamentous Foaming
The three filaments that cause foaming all grown on grease and oil, and these can become a problem when grease and oil are high in amount in the influent wastewater. Systems that lack primary clarification (the main grease and oil removal mechanism) appear to suffer more foaming problems.
Note that Nocardia here is used as a group name rather than a specific species. Recent work has shown that a number of actinomycetes can cause foaming and include Nocardia Amarae, N. pinensis, N. rhodochrus and other Nocardia-like species. These are often collectively referred to as the Nocardioforms, or the foam-causing actinomycetes.
Nocardia and Microthrix parvicella also occur at a longer sludge age. The sludge age at which these filaments can be controlled is a function of the wastewater temperature, being lower at higher temperature. Nocardia appears to be favored at higher aeration basin temperatures and Microthrix parvicella at lower aeration basin temperatures. Nocardia can usually be controlled by a sludge age below 6-8 days and M. parvicella at a sludge age below 8-10 days at moderate wastewater temperatures. However, many plants have had to reduce the sludge age to less than 2 days for Nocardia control, and this may be inconsistent with other process goals,such as nitrification or sludge handling capability.



Sự nổi bọt khốc liệt của 1 nhóm hoạt động như mỹ phẩm, dầu thơm, và các mối nguy cho sự an toàn nếu chúng tràn từ bồn ra đường đi bộ, tay vịn cầu thang. Bọt có thể đông cứng trong thời tiết lạnh, cần thiết phải vệ sinh sạch. Bọt có thể tuôn ra, tăng chất rắn lơ lửng và làm tăng sự ô nhiễm. Trong các bể Ae có nắp, bọt có thể tích tụ vượt quá bọt nước có thể của lưu lượng nước thải qua bể. hạn chế của qui trình không thu hồi bọt có thể làm ô nhiễm nếu trong trong hệ thống tồn tại các chất rắn.

Các phương pháp xử lý bùn nổi do VS dạng sợi
Ba loại VS sợi gây ra nổi bọt sẽ phát triển trong môi trường dầu,mỡ, và có thể thành sự cố khi dầu, mỡ tăng 1 lượng lớn trong nước thải. Những hệ thống không có lọc chính (máy tách dầu, mỡ) sự xuất hiện nổi bọt sẽ nhiều hơn.

Lưu ý rằng Nocardia ở đây được sử dụng chung cho tên của 1 nhóm VS chứ không phải 1 loại VS cụ thể. Nghiên cứu gần đây cho biết 1 nhóm tia khuẩn có thể là nguyên nhân nổi bọt: Nocardia Amarae, N. pinensis, N. rhodochrus và các loài khác như Nocardia
Nocardia và Microthrix parvicella cũng xuất hiện ở bùn già. Tuổi bùn mà tại đây các VS dạng sợi có thể kiểm soát bởi khoảng nhiệt độ của nước thải, được kiểm soát nhỏ hơn nhiệt độ cao nhất cho phép.Nhiệt độ bể Ae cao là môi trường cho Nocardia phát triển và Microthrix parvicella ở nhiệt độ thấp hơn. Nocardia có thể được kiểm soát bằng tuổi bùn từ 6-8 ngày và M.parvicella bùn nhỏ hơn 8-10 ngày ở nhiệt độ bình thường. Tuy nhiên, nhiều nhà máy đã phải giảm bùn tuổi đến dưới 2 ngày để kiểm soát Nocardia, và điều này mâu thuẫn với mục tiêu quá trình khác, chẳng hạn như nitrat hóa hoặc khả năng xử lý bùn.


A third factor in the growth of Nocardia and M. parvicella is septicity or low oxygen conditions. Note that the combination of grease and oil, longer sludge age, and septicity or low oxygen conditions is needed for these filaments to overgrow the system and cause foaming. In this regard, Nocardia and M. parvicella can be considered "low DO filaments", although low DO per dec doesn't cause them without the other two factors.
Type 1863 differs in growing at a low sludge age, usually less than 3-4 days. It indicates a high amount of grease and oil and young sludge condition. Many type 1863 foaming episodes have been caused by a reduction in primary clarification when units were removed from service for repair or cleaning and grease and oil concentration increased in the aeration system.
Control of Nocardia and M. parvicella foaming is difficult. Chemical antifoam agents have not proven generally effective, probably because these act on chemical surfactants and not on a solids-stabilized foam. Many plants reduce aeration to control foaming, but process performance may suffer if oxygen becomes limiting. Further, low oxygen-induced bulking may occur when this is done.
Physical control of foams is most widely practiced using enlarged surface scum traps and forceful water sprays (often containing 50 mg/L chlorine). Many foams reach problem levels because they build up on these surfaces and are not removed. Foam should be removed entirely from the system and not recycled back into the plant, for example, into the headworks. Foam disposal into aerobic or anaerobic digesters can result in foaming there, so this should be avoided.
Return sludge chlorination has not eliminated Nocardia, although it often helps, due to Nocardia's growth mostely within the activated sludge flocs where it isn't readily contacted by chlorine. Also, much of the


Tác nhân thứ 3 cho of Nocardia and M. parvicella phát triển là hệ thống bị nhiễm khuẩn hoặc DO thấp. Lưu ý rằng hổn hợp của mỡ và dầu, bùn già, nhiễm khuẩn hoặc hệ thống trong điểu kiện oxy thấp là môi trường cho các dạng VS sợi phát triển nhanh gây ra bọt nổi. Về vấn đề này Nocardia and M. parvicella được xem là “ Những VS sợi DO thấp “, mặc dù tỉ số DO trên decigam thấp không phải nguyên nhân gây ra mặc dù không có 2 tác nhân khác.
Các loại VS sợi 1863 khác nhau phát triển khác nhau trong điều kiện bùn non, thông thườg nhỏ hơn 3-4 ngày. Đều này nói lên rằng có 1 lượng lớn dầu, mỡ và bùn non tuổi. Nhiều dạng bọt do 1863 được xác định nguyên nhân do lọc chính giảm tác dụng khi đước tháo ra VS, bảo trì sửa chữa và mỡ, dầu cô đặc tăng trong bể Ae.
Việc kiểm soát sự nổ bọt do Nocardia and M. parvicella rất phức tạp. Cac hóa chất chống bọt nói chung chưa chứng minh được tác dụng, có lẽ do tác dụng của hóa chất chỉ trên bề mặt của bọt và không có tác dụng đối với các chất rắn ổn định. Nhiều nhà máy giảm thổi khí để kiểm soát bọt nổi, nhưng việc làm này có thể làm hệ thống bị sự cố nếu oxy bị giới hạn, hơn nữa việc giải phóng oxy nguyên tử sẽ sảy ra khi việc DO thấp.
Việc xử lý bọt bằng vật lý được sử dụng rông rãi nhất như dùng các strap thu bọt fun nước có áp (thông thường 50mg clorin / 1L nước). Rất nhiều loại bọt gây ra sự cố bởi vì chúng tích tụ trên bề mặt và khó xử lý. Bọt phải được xử lý hoàn toàn và không hồi về hệ thống, ví dụ có nhiều phương pháp xử lý bọt bằng bệ hiếu khí, kỵ khí cho các dạng bọt đó, xong nên tránh việc tạo bọt.
Việc clo hóa bùn không loại trừ được Nocardia, tuy vậy nó vẫn được sử dụng, bởi vì Nocardia phát triển chủ yếu bên trong các bông bùn hoạt tính tại đó không dễ dàng tiếp xúc với clo, Ngoài ra, rất nhiều Nocardia có thể hiện diện trên bề mặt của bể Ae và không thể qua hố RAS để tiếp xúc với clorin. Clo hóa hố RAS có tác dụng nhiều hơn với bọt nổi do M. parvicella


Nocardia may be present on the aeration basin surface and this doesn't go through the RAS line to see chlorine. RAS chlorination is more useful for foams caused by M. parvicella.
Many anaerobic digester foaming incidents may be attributed to treatment of Nocardia-containing waste activated sludge. Here it is important to remember that Nocardia cells float, dead or alive, due to their hydrophobic (water fearing) cell surface. Even though Nocardia are strict aerobes, their cells are readily floated and cause foaming even under anaerobic conditions.
Nocardia and M. parvicella are controlled by addressing all three causative factors above. A reduction in the grease and oil content of the wastewater is needed, either through source control or improved operation of the primary clarifier (if present) to better remove grease and oil. These filaments are usually controlled by a reduction in the system sludge age as given above. Septicity, if present, needs to be controled, and the aeration basin DO concentration should be raised. Note that higher aeration causes more foam formation, due to the physical action of more air present. Many operators reduce aeration when foaming occurs to reduce the foam, but this only causes more filament growth in the long term.
Review
Filamentous bacteria serve as the backbone of floc formation. Sludge settles most efficiently when it contains a moderate number of filaments which provide structure for the floc and aid in the stripping of the water column. The floc cannot form properly if there are too few filaments, and the floc cannot settle properly if there are too many.
During a nutrient deficiency, the bacteria within th floc particles remove soluble BOD from the wastewater.


Rất nhiều men phân hủy bọt kỵ khí xuất hiện có thể do việc xử lý Nocardia có trong bùn thải hoạt tính.Ở đây điều quan trong là nhớ rằng tế bào lơ lửng Nocardia, chết hoặc sống, bởi vì bề mặt của tế bào kỵ nước. mặc dù Nocardia là vi sinh hoàn toàn ưa khí, các tế bào của nó hoàn toàn lơ lửng và là nguyên nhân nổi bọt mặc dù trong điều kiện yếm khí.
Nocardia and M. parvicella được kiểm soát bằng cả 3 nguyên nhân đã nêu trên. Giảm lượng dầu và mỡ trong nước thải là cần thiết, thông qua việc kiểm soát và hoàn thiện bể lọc chính (nếu có) để tách ra dầu, mỡ tốt hơn. Các VS dạng sợi này được kiểm soát bằng cách giảm tuổi bùn trong hệ thống như đã nêu ở trên. Nhiễm khuẩn nếu có cần phải được kiểm soát, và trong bể Ae cần tăng DO. lưu ý rằng tăng quá cao DO là nguyên nhân tạo bọt nhiều hơn, bởi vì tác động vật lý của không khí có trong Ae nhiều lên. Nhiều nhân viên VH giảm sục khí để giảm tạo bọt , nhưng điều này tạo điều kiện cho VS sợi phát triển trong thời gian dài.


Vi khuẩn dạng sợi tạo nền tảng cho việc tạo bùn. Bùn hoạt động hiệu quả khi chứa 1 lượng VS sợi vừa phải, những VS sợi này cung cấp cấu trúc cho việc tạo bông bùn và hỗ trợ nó thoát khỏi cột nước. Bùn không thể hình thành tốt nếu có quá ít VS dạng sợi và không thể tồn tại nếu có quá nhiều VS dạng sợi.
Trong suốt quá trình thiếu hụt dưỡng chất, vi khuẩn trong các phần tử của bùn loại bỏ BOD hòa tan trong nước thải.


However, when nitrogen or phosphorous is deficient, the soluble BOD is not degraded but it is stored within the floc particles as an exocellular polymer-like material. This slimy material interferes with settling and may cause foam upon aeration. Bulking is a problem consisting of slow settling and poor compaction of solids in the clarifier of the activated sludge system. Filamentous bulking is usually caused by the excessive growth of filamentous microorganisms. ludge settleability is determined by measuring the sludge volume index (SVI), which is given by:

A high SVI (>150 mL/g) indicates bulking conditions, whereas an SVI below 70 mL/g indicates the predominance of pin (small) floc.
Filamentous bacteria can be controlled by treating the return sludge with chlorine or hydrogen peroxide to selectively kill filamentous microorganisms.
Chlorine concentration should be 10-20 mg/L (concentrations greater than 20 mg/L may cause deflocculation and formation of pin-point flocs). However, chlorination is sometimes unsuccessful in bulking control. Hydrogen peroxide is generally added tot he RAS at concentrations of 100-200 mg/L. However, as shown for chlorine, excessive levels of hydrogen peroxide can be deleterious to floc-forming bacteria.
Numerous measures for controlling foams in activated sludge have been proposed. Several of these cures are not always successful and have not been rigorously tested under field conditions. The control measures proposed include chlorination of foams, increase in sludge wasting, use of biological selectors, reducing air flow in the aeration tank, reducing pH and oil and grease levels, addition of anaerobic digester supernatant, water sprays, antifoam agents, physical removal and use of antagonistic microflora.


Dù vậy, khi thiếu nito và photpho BOD hòa tan không tiêu hủy được và tồn tại trong các phần tử bùn dưới dạng vật chất như exocellular polymer. Nó cản trở việc lắng bùn và có thể tạo bọt trên bể Ae. Nổi bùn trên bể lắng II bao gồm các vấn đề: bùn lắng chậm và sự liên kết các chất rắn kém của bùn hoạt tính. Nổi bùn thông thường do VS sợi phát triển quá mức. Khả năng lắng của bùn được xác định bởi công thức:

Chỉ số thể tích bùn > 150mL/g điều kiện tốt cho bùn nổi, ngược lại SVI < 70 mL/g liên kết bùn mịn chiếm ưu thế.
Vi khuẩn sợi có thể kiểm soát bằng cách cho Clorin hoặc H2O2 vào bùn hồi để diệt vi sinh sợi.
Nồng độ Clorin nên 10 – 20 mg/L (nồng độ lớn hơn 20mg/L có thể là nguyên nhân của tan kết cấu bùn và hình thành những mảng bùn nhỏ). Mặc dù vậy Clorin thỉnh thoảng thất bại trong việc kiểm soát bùn nổi. H2O2 thường được cho vào hố RAS với nồng độ 100 – 200 mg/L, cho dù vậy giống như Clorin nồng độ cao có thể diệt các vi sinh tạo bùn.
Nhiều phương pháp kiểm soát nổi bùn hoạt tính được đưa ra nhưng không phải lúc nào cũng đạt được kết quả và chưa được thử nghiệm chính sác trong điều kiện thực tế. Sử lý bùn nổi bằng Clo làm tăng bùn thải, sử dụng lọc sinh học, giảm lưu lượng không khí trong bể Ae, giảm pH, dầu và mỡ, thêm chất phân hủy nổi trên bề mặt, phun nước, chất chống tạo bọt, xử lý vật lý và sử dụng vi sinh vật đối kháng.
 

minhtu

New Member
#3
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
bọt nổi nhiều ở bể arotank

nước thải của em chủ yếu là từ quá trình giặt mài quần áo và nước hồ có chứa hồ tinh bột .
quá trình xử lý bằng hoá lý rồi qua bể l1 từ l1 xuống arotank bọt nổi nhiều màu trắng cả bể arotank 1 và 2 luôn ban ngày nổi ít ban đêm có khi cao cả m luôn > hiện nay e đang cho sử dụng chất khử bọt tam thời brust 100 nhưng giá nó đắt quá 55 ngàn/kg cơ . anh chi co cách nào hay chỉ em với . em cảm ơn
leminhtu26@gmail.com
 
#4
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
bọt nổi nhiều là do chất hoạt động bề mặt đó!! khi thiết kế sao không tính đến giai đoan khử hoạt chất này??
theo mình rẻ nhất là dùng kỵ khí!! tại nước thải sinh hoạt mình dùng kỵ khí qua thằng vi sinh nó không còn bọt nữa!
nổi bọt trắng có kèm theo mùi thối hay vi sinh bị đen gì không?
 
#8
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Chào các bác !
Em đang vận hành một hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt công suất 20m3/ngày đêm. Mấy hôm trước hệ thống của em bị mất điện khoảng 3-4 tiếng. Trong thời gian đấy người ta có rửa nhà vệ sinh nên có một lượng nước xà phòng chảy vào hệ thống. Kết quả là khi em khởi động lại máy sục khí thì ở bể hiếu khí có rất nhiều bọt trắng như bọt xà phòng. y như người ta sục khí vào chậu nước xà phòng ấy. Em phải phun nước để đáng tan bọt mất gần buổi chiều.
Nhưng hôm sau và cho đến giờ vận hành hệ thống vẫn có hiện tượng nổi bọt trắng ở bể earotank.
Cho em hỏi như thế vi sinh trong bể aerotank có bị gì không ? Xử lý như thế nào để dứt được tình trạng bọt như vậy.
Em xin cảm ơn !
 
Top