Ứng dụng Gom Rác GRAC
FACEBOOK GRAC TẶNG ĐỒ VÀ PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN

ISO 14001 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm những loại nào?

daibangxanh

Well-Known Member
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm những loại nào?

Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm:

- Thuế và phí môi trường.
- Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay "cota ô nhiễm".
- Ký quỹ môi trường.
- Trợ cấp môi trường.
- Nhãn sinh thái.
Việc sử dụng các công cụ kinh tế trên ở các nước cho thấy một số tác động tích cực như các hành vi môi trường được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các chi phí của xã hội cho công tác bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia.

Bạn nào muốn hỏi đáp vấn đề nào thì cứ hỏi, mình sẽ giải đáp trong khả năng :congratulate:
 

daibangxanh

Well-Known Member
#2
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh
nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất.
Mục đích của thuế tài nguyên là
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên.
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư về
việc sử dụng tài nguyên.
Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế sử
dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng
sản...
Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ
của doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất kỹ
thuật của khu vực khai thác tài nguyên để bảo đảm có sự phân biệt đối với các
doanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái môi
trường ở các mức độ khác nhau; nguyên tắc chung là: hoạt động càng gây nhiều tổn
thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn.
 

daibangxanh

Well-Known Member
#3
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường

Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó có
thể quy định quyền sở hữu và vì thế thường bị sử dụng bừa bãi như không khí, đại
dương.
Để thực hiện công cụ này, trước hết Nhà nước phải xác định mức sử dụng môi
trường chấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép. Việc này không đơn
giản và cũng đòi hỏi chi phí thực hiện khá lớn. Sau khi quy định mức thải tối đa
trong vùng, có thể phát không giấy phép cho các doanh nghiệp hoạt động trên địa
bàn dựa trên một số căn cứ nào đó hoặc tổ chức bán đấu giá. Cách thực hiện được
nhiều người tán thành nhất là phân phối giấy phép dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc
hiện trạng tác động môi trường của từng doanh nghiệp, nói cách khác là thừa kế
quyền được thải quá khứ. Khi đã có giấy phép, các doanh nghiệp tự do giao dịch,
mua đi bán lại số giấy phép đó; giá giấy phép trên thị trường sẽ điều tiết nhu cầu
trong phạm vi tổng hạn mức.
Ưu điểm đáng kể nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả và hạn
mức ô nhiễm. So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thì thị trường giấy phép mang tính chắc chắn, bảo đảm hơn về kết quả đạt mục tiêu môi trường vì dù
giao dịch mua bán như thế nào thì tổng lượng giấy phép vẫn nằm trong phạm vi
kiểm soát ở số phát hành ban đầu. Mặt khác, công cụ giấy phép linh hoạt ở chỗ nó
cho phép các doanh nghiệp lựa chọn các phương án mua thêm giấy phép để tiếp tục
thải hay tìm cách cải thiện hiện trạng, giảm thải xuống mức cho phép.
 

daibangxanh

Well-Known Member
#4
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Hệ thống đặt cọc - hoàn trả.

Đặt cọc - hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường bằng cách quy
định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường
phải trả thêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng, nhằm bảo đảm cam kết sau
khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho
các đơn vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử
dụng hoặc tiêu hủy theo cách an toàn đối với môi trường. Nếu thực hiện đúng,
người tiêu dùng sẽ được nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hoàn trả lại.
Mục đích của hệ thống đặt cọc - hoàn trả là thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với
môi trường.

Vậy câu hỏi thảo luận là: cái này và ký quỹ môi trường có khác nhau ko
 

daibangxanh

Well-Known Member
#5
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Ký quỹ môi trường

Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm
năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường. Nguyên lý hoạt động của hệ thống ký
quỹ môi trường cũng tương tự như của hệ thống đặt cọc - hoàn trả. Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh
trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền (hoặc kim loại
quý, đá quý, hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền) tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng
nhằm bảo đảm sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái
môi trường.
Mục đích chính của việc ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy
thoái môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ từ đó tìm ra các biện
pháp thích hợp ngăn ngưà ô nhiễm, suy thoái môi trường.
Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu các doanh nghiệp / cơ sở có các
biện pháp chủ động ngăn chặn, khắc phục không để xẩy ra ô nhiễm hoặc suy thoái
môi trường, hoàn nguyên hiện trạng môi trường đúng như cam kết thì họ sẽ được
nhận lại số tiền đã ký quỹ đó. Ngược lại nếu bên ký quỹ không thực hiện đúng cam
kết hoặc phá sản thì số tiền đã ký quỹ sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng / tổ
chức tín dụng để chi cho công tác khắc phục sự cố, suy thoái môi trường.
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước vì không phải đầu tư kinh phí khắc
phục môi trường từ ngân sách. Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanh
nghiệp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp sẽ có lợi ích
do lấy lại được vốn khi không để xẩy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường.
 

daibangxanh

Well-Known Member
#6
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Trợ cấp môi trường

Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc tổ chức OECD. Trợ cấp môi trường có thể
dưới các dạng sau:
- Trợ cấp không hoàn lại
- Các khoản cho vay ưu đãi
- Cho phép khấu hao nhanh
- Ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế)
Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công - nông nghiệp
và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không
chịu đựng được đối với việc xử lý ô nhiễm. Trợ cấp cũng còn nhằm khuyến khích
các cơ quan nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường
hoặc các công nghệ xử lý ô nhiễm.
Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả. Các nhà sản xuất có thể đầu tư
quá mức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so với mức
tối ưu cũng là không hiệu quả).
Trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc
kéo dài sẽ dẫn đến phi hiệu quả kinh tế vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc "người
gây ô nhiễm phải trả tiền", nó tạo ra sự thay đổi số công ty (vào - ra tự do đối với
ngành công nghiệp), thay đổi mức hoạt động của ngành công nghiệp mà mục đích
giảm ô nhiễm lại không đạt được.
 

daibangxanh

Well-Known Member
#7
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Quỹ môi trường

Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận tài trợ vốn từ
các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực
hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường.
Nguồn thu cho quỹ môi trường có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như:
- Phí và lệ phí môi trường
- Đóng góp tự nguyện của các cá nhân và doanh nghiệp
- Tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật của các tổ chức trong nước, chính quyền địa
phương và chính phủ trung ương.
- Đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế
- Tiền lãi và các khoản lợi khác thu được từ hoạt động của quỹ;
- Tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định về bảo vệ môi trường
- Tiền thu được từ các hoạt động như văn hoá, thể thao, từ thiện, xổ số, phát hành
trái phiếu...
Hỗ trợ do Quỹ môi trường cung cấp thông thường dưới hình thức hỗ trợ tài chính
với các điều khoản ưu đãi, chẳng hạn như các khoản trợ cấp không hoàn lại, các
khoản vay vốn dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường để
khuyến khích các dự án đầu tư bảo vệ môi trường, hỗ trợ các dự án nghiên cứu
triển khai, đào tạo và truyền thông môi trường, các dự án kiểm soát và xử lý ô
nhiễm của các doanh nghiệp. Quỹ môi trường thậm chí còn hỗ trợ tiền cho việc
điều trị của các nạn nhân ô nhiễm.
 

daibangxanh

Well-Known Member
#8
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Thuế môi trường.

Thuếí môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sản phẩm theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền". Thuế môi trường
nhằm hai mục đích chủ yếu: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô
nhiễm thải ra môi trường và tăng nguồn thu cho Ngân sách.
Trên thực tế, thuế môi trường được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tuỳ
thuộc mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như: thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm,
thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm, phí đánh vào người sử dụng.
2.3 Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường
Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó có
thể quy định quyền sở hữu và vì thế thường bị sử dụng bừa bãi như không khí, đại
dương.
Để thực hiện công cụ này, trước hết Nhà nước phải xác định mức sử dụng môi
trường chấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép. Việc này không đơn
giản và cũng đòi hỏi chi phí thực hiện khá lớn. Sau khi quy định mức thải tối đa
trong vùng, có thể phát không giấy phép cho các doanh nghiệp hoạt động trên địa
bàn dựa trên một số căn cứ nào đó hoặc tổ chức bán đấu giá. Cách thực hiện được
nhiều người tán thành nhất là phân phối giấy phép dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc
hiện trạng tác động môi trường của từng doanh nghiệp, nói cách khác là thừa kế
quyền được thải quá khứ. Khi đã có giấy phép, các doanh nghiệp tự do giao dịch,
mua đi bán lại số giấy phép đó; giá giấy phép trên thị trường sẽ điều tiết nhu cầu
trong phạm vi tổng hạn mức.
Ưu điểm đáng kể nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả và hạn
mức ô nhiễm. So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thì thị trường giấy phép mang tính chắc chắn, bảo đảm hơn về kết quả đạt mục tiêu môi trường vì dù
giao dịch mua bán như thế nào thì tổng lượng giấy phép vẫn nằm trong phạm vi
kiểm soát ở số phát hành ban đầu. Mặt khác, công cụ giấy phép linh hoạt ở chỗ nó
cho phép các doanh nghiệp lựa chọn các phương án mua thêm giấy phép để tiếp tục
thải hay tìm cách cải thiện hiện trạng, giảm thải xuống mức cho phép.
 
#11
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Cung duoc.Cac ban ai biet,phan tich ho minh:"nhung vi sao nguoi gay o nhiem phai tra tien"
Để tớ trích cho bạn 1 phần trong báo cáo của tớ nhé:
"...Để giải quyết vấn đề công bằng trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường, nhiều nước đã áp dụng nguyên tắc này (PPP) quy định người gây ô nhiễm phải có trách nhiệm (trả tiền) cho hành động gây ô nhiễm của mình. Đây là cách tiếp cận về mặt kinh tế nhưng mang tính chất nhân văn. Tức là người sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường (người gây ô nhiễm môi trường – người giàu) phải có trách nhiệm đóng góp, đền bù thiệt hại cho những người chịu tổn thương do ô nhiễm môi trường gây ra (người chịu tác động chính của ô nhiễm môi trường - người nghèo). Bên cạnh đó cách tiếp cận này cũng giúp các doanh nghiệp sản xuất phải thay đổi công nghiệp, sản xuất bằng cách tiếp cận phòng ngừa nhằm giảm tối đa việc sử dụng tài nguyên thiên thiên, hạn chế tối đa tác hại cho môi trường. Biểu hiện cụ thể của nguyên tắc này ở Việt Nam là thuế nước thải, thuế tài nguyên, tuy nhiên cách tiếp cận này ở Việt Nam vẫn chưa thật sự phổ biến và mang tính bền vững"
 

loandao

New Member
#14
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm những loại nào?

Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm:

- Thuế và phí môi trường.
- Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay "cota ô nhiễm".
- Ký quỹ môi trường.
- Trợ cấp môi trường.
- Nhãn sinh thái.
Việc sử dụng các công cụ kinh tế trên ở các nước cho thấy một số tác động tích cực như các hành vi môi trường được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các chi phí của xã hội cho công tác bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia.

Bạn nào muốn hỏi đáp vấn đề nào thì cứ hỏi, mình sẽ giải đáp trong khả năng :congratulate:
:005::005::005::005:
 
Top