Ứng dụng Gom Rác GRAC
FACEBOOK GRAC TẶNG ĐỒ VÀ PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN

Chất thải y tế

#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
KHÁI NIỆM CHẤT THẢI Y TẾ

Chất thải y tế (CTYT) là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu… CTYT nguy hạI là chất thảI có các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan, bơm, kim tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất, chất phóng xạ… thường ở dạng rắn, lỏng, khí. CTYT được xếp là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng; gây hại sức khoẻ, an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm mỹ.
Rác sinh hoạt y tế là chất thải không được xếp chất thải nguy hại, không có khả năng gây đọc, không càn lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chát thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện: giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ…
Rác y tế (RYT) là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải dạng lỏng và khí, đựơc thu gom và xử lý riêng.
 
#2
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
PHÂN LOẠI

PHÂN LOẠI

Chất thải lâm sàng
* Nhóm A: Chất thải nhiễm khuẩn chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ gây bệnh, bị bệnh khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, năm … bao gồm các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của bệnh nhân như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…
* Nhóm B: là các vật sắc nhọn: bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thuỷ tinh vỡ và mọi vật liệu tạo vết cắt hoặc chọc thủng.
* Nhóm C: Chất thải nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu…
* Nhóm D: Chất thải dược phẩm, dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị bỏ, không còn nhu cầu sử dụng và thuốc gây độc tế bào.
* Nhóm E: là mô, cơ quan người bệnh, động vật, mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai…

Chất thải gây độc tế bào
Vật liệu bị ô nhiễm như bơm tiêm, gạc, lọ thuốc… thuốc quá hạn, nước tiểu, phân… chiếm 1% chất thải bệnh viện.

Chất thải phóng xạ
Chất thải có hoạt độ riêng như chất phóng xạ. chất thải phóng xạ phát sinh từ hoạt động chuẩn đoán, hoá trị liệu và nghiên cứu. chất thải phóng xạ gồm chất thải rắn, lỏng, khí.
Chất thải phóng xạ rắn: vật liệu sử dụng trong xét nghiệm, chuẩn đoán như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm…
Chất thải phóng xạ lỏng: dung dịch chứa nhân tố phóng xạ, tham gia điều trị, chất bài tiết.
Chất thải phóng xạ khí: khí dùng trong lâm sàng, khí từ kho chứa chất phóng xạ.
Chất thải hoá học
Chất thải từ nhiều nguồn, chủ yếu từ hoạt động xét nghiệm, chuẩn đoán bao gồm: formaldehyd, hoá chất quang học, dung môi, etylen, hỗn hợp hoá chất…

Các loại bình chứa có áp
Bình chứa khí có áp như bình CO2, O2, Gas, bình khí dung, bình khs dùng 1 lần… các bình dễ gây cháy nổ, khi thiêu đốt cần thu riêng.

Chất thải sinh hoạt
Chất thải không bị coi là chất thải nguy hại, phát sinh từ bệnh viện, phòng làm việc… giấy báo, tài liệu đóng gói, thùng, túi nilon, thức ăn dư thừa…
 
#3
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
TÍNH CHẤT CHẤT THẢI Y TẾ
Tính chất vật lý

Thành phần

Là thông số quan trọng đánh giá khả năng thu hồi phế liệu lựa chọn công nghệ xử lý thích hợp.

Thành phần chất thải (rác sinh hoạt y tế):
• Giấy và giấy thấm: 60%
• Plastic: 20%
• Thực phẩm thừa: 10%
• Kim loại, thuỷ tinh, chất vô cơ: 7%
• Các loại hỗn hợp khác: 3%
• Thành phần chất thải nhiễm khuẩn:
• Giấy và quần áo: 50 – 70%
• Plastic: 20 – 60%
• Thuỷ tinh: 10 – 20%
• Chất dịch: 1 – 10%

Thành phần vật lý CTYT một số bệnh viện ở Tp. HCM:
• Plastic(C2H3CL): 30,1%
• Cao su (C4H6)n: 24,2%
• Vải, giấy (C6H10O5)n: 36,2%
• Lipit (C30H5O2N): 4%
• Protit (C2H5O2N): 4%
• Xương (Ca,P): 5%
 
#4
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
CƠ SỞ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RÁC Y TẾ

CƠ SỞ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RÁC Y TẾ
Cơ sở lựa chọn
* Dựa vào các phương pháp xử lý rác y tế đã nêu, các phương pháp đều cơ ưu nhược điểm riêng. Khử trùng bằng hoá chất không đảm bảo hiệu quả khử trùng, chất thải vẫn còn nguy cơ lây nhiễm cao; khử trùng bằng nồi hấp, sóng viba đòi hỏi kỹ thuật cao, chi phí tốn kém; phương phaps chôn lấp thường không qua xử lý nên ảnh hưởng đến môi trường.
* Qua các phân tích trên, phương pháp thiêu đốt RYT là thích hợp, phù hợp điều kiện nhiều vùng ở nước ta, có nhiều ưu điểm, giảm 90 – 95% trọng lượng chất thải hữu cơ trong rác, chát thải phát sinh từ qúa trình đốt có thể đwocj xử lý tại chổ, tránh rủi ro khi vận chuyển, hiệu quả cao đối với chất thải nguy hiểm, chất thải lây nhiễm cao.

Quá trình quản lý rác y tế trước khi xử lý
Thu gom



Phải có lịch trình thu gom và vận chuyển rác hợp lý.
RYT được gói trong bao nilon hoặc trong thùng chứa có nắp đậy.
Quy định màu sơn của các thùng chứa rác khác nhau để phân biệt (thùng màu xanh chứa rác sinh hoạt, màu vàng chứa các loại rác y tế như bông, gạc, ống tiêm, bệnh phẩm… màu đen chứa chất thải phóng xạ, thuốc gây độc tế bào… )
Các loại bệnh phẩm phải được chuyển ngay đến nơi tập trung rác bằng các dụng cụ và phương tiện chuyên dùng để chuẩn bị cho việc thiêu đốt, không được để bệnh phẩm tồn đọng lâu trong các phòng, khoa của bệnh viện.
Nhà phân loại rác phải thông thoáng tốt, thường xuyên phun xịt các loại thuốc chống muỗi, ruồi.
Khu tập trung rác phải cao có mái và tường che để tránh nước mưa rời vào xung quanh phải có mương để thoát nước với hệ thống thoát nước bẩn để xử lý.

Phân loại
Rác được chia làm 2 loại: rác sinh hoạt, rác y tế. Việc phân loại phải được thực hiện ngay tại thời điểm chất thải phát sinh, chất thải phải được đựng trong các túi và thùng theo quy định.
Chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải sinh hoạt. Nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại thì hỗn hợp chất thải được xử lý và tiêu huỷ như chất thải y tế nguy hại.

Công nghệ thiêu đốt chất thải y tế



Công nghệ thiêu đốt là đốt chất thải một cách có kiểm soát trong một vùng kín, mang nhiều hiệu quả. Quá trình đốt được thực hiện hoàn toàn, phá huỷ hoàn toàn chất thải độc hại bằng cách phá vỡ các liên kết hoá học, giảm thiểu hay loại bỏ hoàn toàn độc tính. hạn chế tập trung chất thải cần loại bỏ vào môi trường bằng cách biến đổi chất rắn, lỏng thành tro. So với CTYT chưa xử lý, tro thải vào môi trường an toàn hơn.
Việc quản lý kim loại, tro và các sản phẩm của quá trình đốt là khâu quan trọng. Tro là dạng vật liệu rắn, trơ gồm C, muối, kim loại. Trong quá trình đốt, tro tập trung ở buồng đốt (tro đáy), lớp tro này xem như chất thải nguy hại. Các hạt trong có kích thước nhỏ có thể bị cuốn lên cao (tro bay). Tàn tro cần chôn lấp an toàn vì thành phần nguy hại sẽ trực tiếp gây hại. Lượng kim loại nặng được xác định qua việc kiểm tra khói thải và tro dư của lò đốt.
Thành phần khí thải chủ yếu là CO2 , hơi nước, NOx , hydrigen cloride và các khí khác. Các khí vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho con người và môi trường, vì vậy cần có hệ thống xử lý khói thải từ lò đốt.
Lò đốt thường được chia làm 2 buồng:
Buồng đốt chính: gồm 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: chất thải được sấy kho
Giai đoạn 2: cháy và khí hoá
Buồng đốt sau: gồm 3 giai đoạn
Giai đoạn 3: phối trộn
Giai đoạn 4: Cháy ở dạng khí
Giai đoạn 5: ôxi hoá hoàn toàn.
Các yêu tố quyết định sự hiệu quả của lò đốt: sự cân bằng năng lượng, hệ thống kiểm soát chế độ đốt, nhiệt độ nóng chảy trong buồn đốt, độ ẩm của chất thải.
Phương pháp đốt là phương pháp hiệu quả và kinh tế nhất để xử lý triệt để chất thải y tế nguy hại.
 
Top