Ứng dụng Gom Rác GRAC

Chúng ta sống nơi hạ nguồn

yeumoitruong2010

Administrator
Thành viên BQT
#2
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Sông Cửu Long , Nguồn Sống và Mối Đe Dọa cho dân tộc Việt Nam .
Trong thiên trường ca bất hủ "Hội Trùng Dương" của Phạm Đình Chương, sông Cửu Long đã được mô tả, cùng với Hồng Hà và Hương Giang như những linh hồn của ba Miền Đất Nước :
Ba chị em là ba Miền, đem tình thương nối liền ,
Gặp nhau bên trời Biển Đông thắm duyên ...
Cũng như trong trường ca "Hòn Vọng Phu", để đáp lại lòng chung thủy và kiên trì của nàng Tô Thị , Lê Thương đã nhân cách hóa Sông Cửu Long thành :
"Chín con long thật lớn, muốn đem tin tới Nàng, núi ngăn không được xuống, chúng kêu ca dưới ngàn ...
Như vậy thì quả Sông Cửu Long là của Việt Nam , là chiếc nôi của "Văn Minh Miệt Vườn" như đã được nhiều nhà văn mô tả và những gì ảnh hưởng hay xúc phạm tới Sông Cửu Long hiển nhiên là ảnh hưởng và xúc phạm tới Việt Nam ...
Tuy nhiên, với chút tinh thần khoa học, chúng ta cũng nên thử đặt vài câu hỏi :
·[FONT=&quot] [/FONT]Thứ Nhất: Sông Cửu Long có của riêng Việt Nam hay không ?
·[FONT=&quot] [/FONT]Thứ Nhì: Ngoài hình ảnh đã được nhân cách hoá và thi vị hoá, bản chất thật của con sông ra sao ?
·[FONT=&quot] [/FONT]Thứ Ba: Những tác nhân do con người gây nên cho dòng sông, đặc biệt vào các năm cuối thế kỷ 20 và các thập niên sắp tới là những gì ?
·[FONT=&quot] [/FONT]Thứ Tư: Những vấn đề của người Việt Nam ngày hôm nay và trong tương lai trước các nguy cơ cho dòng sông và một phần quan trọng lãnh thổ của dân tộc .

1/ Sông Cửu Long có của riêng Việt Nam hay không ?
Cả miền đồng bằng Nam Việt Nam là sản phẩm của sông Cửu Long, sông chia làm nhiều nhánh chẩy băng ngang miền đồng bằng này, khúc dài nhất khoảng non 300 km.
Sông được liệt vào hàng thứ 11 trên thế giới với độ dài là 4350 km.
Với chiều dài là 4350 km mà chỉ có 300 km chẩy qua Việt Nam, như vậy thì Sông không phải của riêng Việt Nam !
Phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, trước khi tới Việt Nam, Sông đã chẩy qua Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt . Tên của Sông cũng được gọi khác nhau tại mỗi quốc gia .
Dân xứ Tây Tạng gọi là sông Dza Chu ( có nghĩa là nước của đá ).
Người Trung Hoa gọi là Lan Thương Giang ( dòng sông cuồng nộ ).
Người Thái và Lào gọi là Mea Nam Khong ( Sông Mẹ ).
Người Cam Bốt gọi là Tonle Thom ( con Sông Lớn ).
Và sau cùng, khi vào tới Việt Nam, tại tỉnh Châu Đốc, Sông được mang tên Cửu Long, chia thành 2 nhánh là Tiền Giang và Hậu Giang, chẩy ra Biển Đông bằng chín cửa sông khác nhau .
Bởi lẽ đó, khi nhận định về toàn bộ con sông , chúng ta nên dùng một tên quốc tế, được gọi chung cho cả 7 quốc gia đó là Sông Mêkong. Vấn đề của sông Mêkong không chỉ giới hạn ở riêng con sông này, mà còn tùy thuộc vào nhiều phụ lưu tại hai bờ hữu và tả ngạn, cũng đều là những con sông rất lớn.

2/ Ngoài hình ảnh đã được nhân cách hoá và thi vị hoá, bản chất thật của con sông ra sao ?
Tuy về chiều dài chỉ xếp hạng thứ 11, nhưng về sự phong phú của thực vật và ngư sản sống nhờ vào dòng sông, Mêkông được xếp hạng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau sông Amazone bên Nam Mỹ .
Nhờ sông MêKong, đồng bằng miền Nam VN đã được du khách ngoại quốc mô tả là nơi chỉ thấy nước và lúa, và với 12% diện tích toàn quốc, đã có khả năng cung cấp lúa gạo cho cả nước và đưa VN lên vị trí quốc gia xuất cảng lúa gạo thứ nhì trên thế giới .
Ngoài giá trị kinh tế, sông Mêkong đã tạo nên một nếp sinh hoạt xã hội đặc biệt của vùng miền Nam Việt Nam này với hệ thống kinh lạch chằng chịt khắp nơi.
Có những em bé sinh ra trên một con kinh và biết bao em bé khác đã mỗi ngày bơi xuồng hay băng qua "cầu khỉ" cắp sách tới trường. Rồi những đám cưới, đám tang trên sông và nhiều chi tiết khác đã tạo nên một nếp sống đặc biệt của người dân miền đồng bằng Cửu Long, được các nhà văn mệnh danh là "Văn Minh Miệt Vườn".
Ngay cạnh Việt Nam là Biển Hồ của Cam Bốt, nối liền với sông Mêkong bằng dòng TonLe Sap. Biển Hồ tuy của Cam Bốt, nhưng không có Biển Hồ thì không có sự an toàn và thịnh vượng tại đồng bằng Nam Việt.
TonLe Sap là một "dòng sông" đặc biệt , chẩy theo hai chiều.
Vào mùa nước lớn, nước từ sông Mêkông chẩy qua TonLe Sap vào Biển Hồ. Khi tới mùa cạn, nước từ Biển Hồ lại chẩy qua TonLe Sap ngược về dòng MêKong, qua đồng bằng Nam Việt chẩy ra Biển Đông. Đó là lý do đồng bằng miền Nam không bị những trận lụt ghê gớm như các vùng châu thổ của các con sông lớn khác và cũng không bị khô cạn vào mùa nắng mặc dầu lưu lượng của sông Mêkông thay đổi từ 1,750 m3/giây vào mùa cạn lên tới 51,680 m3/giây vào mùa nước lớn, nghĩa là gấp 30 lần .
Vào những thế kỷ trước, tuy là tài sản chung của 7 quốc gia, nhưng chỉ có Việt Nam và Cam Bốt là nhận được ân huệ của Mêkông vì nhờ con sông mà có được vựa lúa, vựa cá . Thêm nữa, nhờ dòng chẩy đầy ắp và hiền hoà ở phần hạ lưu này , Mêkong đã trở thành thủy lộ giao thông quan trọng của 2 quốc gia và giữa 2 quốc gia .
Khi khả năng kỹ thuật của con người được phát triển, tầm quan trọng của sông Mêkong không còn giới hạn vào vài trăm cây số ở phần đất của Việt Nam và Cam Bốt mà những thác nước vĩ đại tại thượng nguồn trong phần đất Trung Hoa và Lào, những đoạn sông uốn khúc cạnh vùng cao nguyên khô cằn vùng Đông Bắc Thái Lan , đã là những nguồn tài nguyên nằm trong tầm tay khai thác của con người . Dòng Mêkong phải được chia xẻ với Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan và Lào là điều không tránh khỏi .
Từ cao độ 4975m, chỉ qua 300 km, nhờ lượng nước từ khối băng tuyết to lớn trên cao nguyên Tây Tạng tan ra, sông Mêkông đã thành một dòng nước ngầu đục phù sa và đổ xuống thành nhiều con thác cao theo thềm cao nguyên Vân Nam chứa đựng một trữ lượng thủy điện to lớn. Với gần nửa bề dài con sông nằm trong lãnh thổ kiểm soát bởi Trung Hoa, nước này có khả năng xử dụng một phần quan trọng lưu lượng nước hàng năm của sông Mekong, đồng thời giữ lại trong các hồ chứa 70% lượng phù sa .
Tiềm năng thủy điện của phần sông trong địa phận Trung Hoa lên tới 15,400 Mwatt (để so sánh, năng xuất của đập ĐaNhim là 160 MWatt, Hoover Dam : 2,800 MWatt , Tam Điệp trên sông Dương Tử, cũng còn gọi là Tam Giáp : 18,200 MWatt ).
Đối với Thái Lan, ngoài thủy điện, nguồn lợi trực tiếp từ sông Mêkong là khối lượng nước dự trù xử dụng để canh tác tại cao nguyên Korat vùng Đông Bắc Thái .
Trong Địa phận Lào, sông Mêkong có một tiềm năng thủy điện rất lớn, cộng với các phụ lưu ước tính lên tới 18,000 Megawatt, nghĩa là còn cao hơn cả phần sông do Trung Hoa kiểm soát, khiến cho Lào được tặng biệt hiệu "xứ Kuwait về thủy điện".
Qua tới Cam Bốt, sông Mêkong đã góp phần tạo nên một kỳ quan về sinh thái của thế giới, đó là Biển Hồ, hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á , dài 160 Km, rộng 30 Km. Biển Hồ là nơi sinh sản của rất nhiều giống cá từ sông Mêkong theo dòng Tonle Sap bơi về vào mùa nước lớn . Qua tháng 11, bắt đầu mùa khô, dòng Tonle Sap lại mang nước "nhung nhúc" cá, từ Biển Hồ đổ về sông Mêkong chẩy qua đồng bằng Nam Việt.
Qua tháng 2, cao điểm của mùa khô, diện tích Biển Hồ thu nhỏ lại còn 3,000 km2 và được ví như "một nồi súp, đầy rau tươi và cá".
Ngoài ảnh hưởng tốt về canh nông và môi trường, dòng Mêkong và các phụ lưu trong địa phận Cam Bốt cũng có một tiềm năng thủy điện đáng kể, riêng thác Sambor cách Nam Vang 200 Km về phía Bắc đã có trữ lượng tới 1,000 MWatt.

3/ Những tác nhân do con người gây nên cho dòng sông, đặc biệt vào các năm cuối thế kỷ 20 và các thập niên sắp tới là những gì ?
Nói chung, ngoài việc sử dụng như một phương tiện giao thông, với sự phát triển của kỹ nghệ và dân số , nhiều dòng sông đã bị dùng như nơi trút bỏ nước thải từ các nhà máy hay thành phố . Gần đây, những công trình do con người gây nên ảnh hưởng tới sông ngòi hơn cả là các đập nước để chạy máy phát điện và lấy nước tưới ruộng cho những phần đất cao.
Để khai thác trữ lượng thủy điện của sông Mêkong , Trung Hoa đã có kế hoạch xây 8 đập nước trên những bậc thềm cao nguyên Vân Nam.
Đập được xây cất đầu tiên là đập Manwan (Mạn Loan), công xuất 1,500 MW cao 99m, hoàn tất vào năm 1993 . Cũng vào năm này, các nước tại hạ nguồn Mêkong ghi nhận một hiện tượng bất thường là mực nước sông đã xuống thấp ngay cả trong mùa mưa , đó là thời gian làm đầy hồ chứa của đập ManWan. Điều này nói lên ảnh hưởng của đập nước đối với dòng sông, và đây mới chỉ là một con đập.
Tiếp theo đập Manwan là các đập Dachaoshan (Đại Chiếu Sơn), công xuất 1,350 MWatt khởi công năm 1996 và đã hoàn tất. Rồi đập Jinghong (Cảnh Hồng) công xuất 1,500 Mwatt, hoàn tất vào tháng 6/2003 .
Con đập thứ tư là đập Xiaowan (Tiểu Loan), khởi công vào tháng4/2001, còn gọi là đập Mẹ, công xuất 4,200 MWatt cao 292m, dự trù hoàn tất vào năm 2010.
Xiaowan sẽ là con đập cao nhất thế giới ( Hoover cao 242m và Tam Điệp trên sông Dương Tử cao 185m ).
Bốn đập còn lại sẽ được xây cất là : Ganlanba (150 MWatt), Gongguoqiao (750 MWatt), Mengsong (600 MWatt) và Nuozhadu (5,500 MWatt).
Tám con đập này là những công trình đã được dự trù từ thập niên 70 . Gần đây Trung Hoa tăng thêm 6 công trình khác, tổng cộng là 14 kế hoạch đập thủy điện tại cao nguyên Vân Nam.
Trong phần chẩy dọc theo biên giới Miến Điện và Lào, hiện nay chưa có dự án nào xây đập trên sông, ngược lại đang có dự định của Trung Hoa, Miến Điện và Thái Lan để phá hủy một số cồn đá trên sông để các tầu lớn có thể di chuyển . Việc đục phá lòng sông này sẽ làm mất đi một số thắng cảnh , thay đổi vận tốc dòng nước mà hậu quả chưa rõ sẽ ra sao tại phần hạ nguồn .
Tới địa phận Thái Lào thì sẽ có 2 loại chương trình khai thác sông Mêkong . Loại thứ nhất là những chương trình khai thác các phụ lưu của Sông. Trong đất Thái phía hữu ngạn của dòng Mêkong có các sông Chi, Sông Mun với các con đập Ubonrat, Nam Pung và Pak Mun (136 MWatt)...
Thái cũng hợp tác với Lào để khai thác thủy điện của các phụ lưu phía tả ngạn và xây các đập Nam Ngum (150 MWatt) và Nam Theun (200 Mwatt) .
Trong tương lai Thái dự trù khai thác trực tiếp dòng Mêkong qua dự án Pa Mong cách Vạn Tượng 20 Km với công xuất 2,000 MWatt và cung cấp nước tưới cho 10,000 km2 cao nguyên Đông Bắc Thái và một phần nước Lào .
Phía Nam của dự án Pa Mong là dự án Sambor thuộc lãnh thổ Cam Bốt với công xuất 1,000 MWatt , phối hợp với đập Sambor là đập Tonle Sap, đập này có mục tiêu canh nông nhiều hơn là thủy điện, nhằm điều hoà nước từ Biển Hồ chẩy ra trong mùa khô .
Ngoài ra còn phải kể tới các dự án trong một tương lai xa hơn là Khone (800 MWatt) và Khemarat (800 MWatt).
Trong phần lãnh thổ thuộc 2 nước Cam Bốt và Việt nam, có các phụ lưu sông Mêkong bắt nguồn từ Cao nguyên Trung Việt, đó là các sông Sekong, Sesan và Srepok . Trên sông Sesan, đập Yali đã được xây vào năm 1993, hoàn tất năm 2001, có bề cao 65m, dài 1460m , công xuất 720 MWatt và là đập thủy điện lớn thứ nhì của Việt Nam, sau đập Hoà Bình (1,920 MWatt).
Một dự án khác ( Sesan 3, công xuất 300 MWatt ) cũng được dự trù trên sông Sesan .

4/ Những vấn đề của người Việt Nam ngày hôm nay và trong tương lai trước các nguy cơ cho dòng sông và một phần quan trọng lãnh thổ của dân tộc .
Nguy cơ to lớn cho tương lai Việt Nam ( 12% diện tích đất đai đang cung cấp thực phẩm cho cả nước và là nguồn xuất cảng chính về lúa gạo ) là việc xây cất những đập nước trên sông Mêkong. 14 con đập trên thềm cao nguyên Vân Nam, 4 con đập trong phần đất Thái, Lào và Cam Bốt, tổng cộng là 18 lưỡi gươm Democles cho đồng bằng Nam Việt. Chỉ cần 1 trong những con đập đó bị vỡ vì bão lụt hay sai khuyết về kỹ thuật xây cất là tai họa giáng xuống cho chúng ta .
Chuyện đập thủy điện bị vỡ đã từng xẩy ra .
Vào năm 1975, tại tỉnh Hà Nam bên Trung Quốc hai con đập Banquiao (Bản Kiều) và Shinmantan (Thạch Mãn Đàm) do Liên Sô xây cất trân sông Hoài, phụ lưu sông Dương Tử, thường được mệnh danh là hai "con đập sắt thép" đã sụp đổ sau 2 ngày mưa lũ . Nước mưa làm hồ chứa đầy tới mức tối đa trong khi các ống thoát lại bị nghẽn bởi phù sa và rác. Số người bị chết vì trận lụt và bệnh dịch sau đó lên tới 230 ngàn, hơn hẳn vụ nổ nhà máy điện nguyên tử tại Chernobyl mười năm sau đó .
Ngoài nguy cơ sụp đổ vì các nguyên nhân kỹ thuật tiên liệu được, các đập nước còn tạo ra và chịu ảnh hưởng của một loại nguy cơ khác, đó là nguy cơ động đất.
Những hồ chứa vĩ đại do các đập nước giữ lại đã có tác dụng tạo nên những trận động đất, đập nước càng cao, xác suất càng lớn . Người ta đều đã ghi nhận các trận động đất tạo nên bởi các hồ nước của các đập Hoover, Aswan (Ai Cập), Tân Phong Giang (Trung Quốc) và Koina (Ấn Độ)... Đáng lo hơn nữa là vùng Vân Nam lại là vùng có hoạt động địa chấn cao, động đất do hồ chứa tạo nên sẽ còn mạnh hơn nữa và có nguy cơ làm vỡ con đập !
Nhân đây cũng xin nói thêm về con đập Sơn La cao 265m , công xuất 3,600 MWatt, đang được xây cất trên Sông Đà tại thượng lưu của đập Hoà Bình. Đập Sơn La cũng được xây cất trong một vùng địa chất tương tự như các đập vùng Vân Nam. Người ta dự trù nếu đập Sơn La bị vỡ thì đập Hoà Bình cũng vỡ theo, và chỉ trong 2 giờ , toàn thể những toà nhà dưới 5 tầng của vùng Hà Nội sẽ bị chìm dưới làn nước !
Ngoài những nguy cơ có tính chất may rủi nêu trên, việc xây cất các đập ngăn nước tại thượng nguồn luôn luôn là mối đe dọa sinh tử đối với các vùng hay quốc gia hạ nguồn vì những lý do khác.
Trước tiên là phần nước giữ lại để tưới ruộng tại vùng cao sẽ giảm thiểu lưu lượng dòng sông khiến nước biển tràn vào và hủy diệt mùa màng tại hạ nguồn. Có khi cả dòng sông bị "tan biến" trước khi ra tới biển như trường hợp dòng sông Colorado. Nước sông Colorado đã được phân phối hầu như toàn vẹn để biến các vùng hoang vu tại thượng nguồn thuộc Hoa Kỳ thành ruộng vườn tươi tốt, vùng bình nguyên Colorado bên Mễ Tây Cơ chỉ còn nhận được 10% nước sông, và không một giọt nước nào thoát được ra tới biển !
Với sông Mêkong, trước nguy cơ về lượng nước sẽ bị giữ lại để tưới ruộng tại Trung Hoa, hiện có hai quan điểm còn cần được kiểm chứng. Theo giới thẩm quyền Trung Hoa thì chỉ có 16% nước sông Mêkong tới từ thượng nguồn Tây Tạng và lãnh thổ Vân Nam, phần còn lại là từ các trận mưa tại hạ nguồn. Tuy nhiên, theo cuộc khảo sát mới đây của He Daming và Ted Chapman (Monash Asia Institute, Melbourne, Australia)
thì 60% lưu lượng của sông Mêkong tới từ Tây Tạng và Vân Nam, các trận mưa tại hạ nguồn chỉ góp 40% lượng nước cho dòng sông. Như vậy, tỷ lệ nước giữ lại tại Trung Hoa có thể sẽ rất lớn so với lưu lượng của dòng sông.
Ngoài phần nước dùng để phát triển canh nông tại Trung Hoa, chúng ta cũng cần lưu ý tới lượng nước khổng lồ do con đập Pa Mong trên phần Mêkong thuộc Thái-Lào sẽ giữ lại để cung cấp cho 10,000 km2 cao nguyên Đông Bắc Thái và một phần nước Lào.
Chúng ta chẳng thể ngăn cản các quốc gia thượng nguồn xử dụng một phần nước sông Mêkong, nhưng phần đó là bao nhiêu ? Và chúng ta cũng cần phải có những biện pháp kỹ thuật để đối phó với các khó khăn do sự kiện một phần nước sông đã bị giữ lại để tưới ruộng tại thượng nguồn.
Ngoài nguy cơ "mất nước", một vấn đề thường xuyên xẩy ra khi thủy điện được cung cấp dồi dào là kỹ nghệ và các thành phố ven sông sẽ phát triển theo, dẫn tới việc gia tăng mức ô nhiễm của dòng sông.
Không phải chỉ có kỹ nghệ và các thành phố, sự phát triển của canh nông nhờ nước tưới từ các con đập cũng là nguồn ô nhiễm vì một phần thuốc sát trùng và chất bón hóa học được sử dụng, sau cùng cũng chẩy gom về dòng sông.
Bên cạnh những nguy cơ do thiên tai và những đe dọa chắc chắn có tính cách tích lũy vừa nêu, còn có những nguy cơ đột xuất do sự bất cẩn của con người .
Vào tháng 3 năm 1992, 9 ngàn tấn mật mía từ nhà máy Khon Kaen tại Đông Bắc Thái đã bị đổ xuống sông Nam Pong, giết chết toàn bộ tôm cá nguyên vùng . Để "cứu nguy", Chính phủ Thái đã phải xả hàng triệu mét khối nước từ đập Ubonrat để đẩy khối nước đen ngòm này (được dân địa phương gọi là "Con Rồng Đen") vào hai con sông Chi và sông Mun rồi vào ... sông Mêkong. Kiểm soát lại thì hơn 140 giống cá đã bị tàn sát.
Vào tháng 2 năm 2000, vì vô trách nhiệm, nhân viên đập nước Yali trên sông Sesan tại Việt Nam đã xả nước hồ chứa mà không báo trước, tạo nên cảnh ngập lụt gây thiệt hại nặng nề cho dân Cam Bốt tại quận Rattanakiri ... Trong khi đó, cũng có những tháng trong năm , vì phía Việt Nam dành lại quá nhiều nước trong hồ chứa Yali, nhiều khúc sông Sesan tại hạ nguồn đã trở nên khô cạn, cắt đứt nguồn sống của ngư dân Cam Bốt cư ngụ trong vùng từ nhiều thế hệ qua .
Sau cùng, nếu nguy cơ đập bị vỡ không xẩy ra, nước sông không bị ô nhiễm bởi kỹ nghệ hay canh nông, phần nước giữ lại để dùng cho canh nông không quá đáng để dòng sông vẫn còn là ... một dòng sông, thì các đập nước vẫn còn là một tai họa cho môi trường sinh thái , làm tuyệt chủng nhiều giống cá.
Từ khi đập Pak Mun được xây cất tại cửa sông, ngư nghiệp trên sông Mun hoàn toàn bị phá sản . Sau nhiều năm tranh đấu của ngư dân, cuối cùng chính phủ Thái đã phải quyết định mở cửa đập Pak Mun để các loài cá từ sông Mêkong có thể bơi về thượng nguồn sinh sản, nghề chài lưới trên sông Mun nhờ đó mà được hồi sinh.
Tai nạn tương tự cũng xẩy ra cho ngư dân Cam Bốt tại hạ lưu sông Sesan sau khi đập Yali được xây cất , vì vậy nên Ngân Hàng Thế Giới đã quyết định không tài trợ cho dự án xây cất đập Sesan 3 của Việt Nam .
Trước ngần ấy nguy cơ chắc chắn và những nguy cơ đột biến có thể xẩy ra cho đồng bằng Nam Việt vì các công trình khai thác sông Mêkong, đổi lại, chúng ta không được lợi ích gì cả . Lợi ích của các đập nước cho vùng hạ nguồn thường chỉ là giúp điều hoà dòng chẩy, tránh lụt trong mùa nước lớn . Với sông Mêkong, nhờ dòng Tonle Sap và Biển Hồ là những kỳ công của tạo hóa, đồng bằng Nam Việt đã không cần tới các con đập nhân tạo mà vẫn có được sự an toàn và thịnh vượng từ bao thế kỷ qua .
Ngày nay, do việc khai thác sông Mêkong bởi các quốc gia láng giềng, chưa bao giờ dân tộc Việt Nam phải đối diện với một nguy cơ to lớn và chắc chắn như vậy.
Đây là một vấn đề không thể giải quyết bằng một thái độ kình chống hay thách đố, đây là một nan đề chỉ có thể giải quyết bằng sự hiểu biết mà bước đầu là hiểu biết thực chất của khó khăn, quyền hạn của các quốc gia láng giềng và giới hạn của chính chúng ta trong vị trí của một quốc gia tại hạ nguồn.
Mong rằng với sự hiểu biết, chúng ta sẽ huy động được khả năng trí tuệ của dân tộc ngày hôm nay, cũng như trong các thế hệ sắp tới, để tìm ra những giải pháp cứu nguy cho sông Mêkong, cứu nguy cho đồng bằng Nam Việt.
Bài viết này hy vọng là một trong nhiều cố gắng để đạt được mục tiêu đó .
Chúng ta sẽ phải đủ thông minh để đối phó với thiên nhiên và đủ khôn ngoan để đối xử với người dân và các chính quyền tại các quốc gia cùng chia sẻ với chúng ta dòng sông quý giá này.
Hoàng Cơ Định

Tái bút :
Nhiều chi tiết trong bài viết này đã được ghi lại từ tác phẩm "Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng" của Ngô Thế Vinh . Đây là một cuốn tiểu thuyết luận đề đã giúp cho tôi rất nhiều dữ kiện và hơn thế nữa , cả một gắn bó tình cảm và tâm linh với dòng Cửu Long, một con sông đã và sẽ luôn luôn là mạch sống của dân tộc.
Xin chân thành cám ơn tác giả và mong "Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng" sẽ là cuốn sách của mọi gia đình người Việt Nam.
Chúng tôi cũng mong mong nhận được những góp ý của độc giả để bài đúc kết này được chính xác và đầy đủ hơn, và đặc biệt mong được trao đổi ý kiến về bất cứ hình thức hành động nào có thể, hoặc cần phải tiến hành, để đối phó với vấn nạn to lớn này của dân tộc ( hoangcodinh@jps.net ).
 
Top