Chuyện về người Việt Nam đoạt giải Nobel Hoà Bình-Về biến đổi khí hậu-2007

Hotline: 1800 1522

Ứng dụng tiện ích

App yeumoitruong.vn

App Store Google Play

App Gom Rác GRAC

App Store Google Play

Chia sẻ trang

tungbo

Cây công nghiệp
Bài viết
257
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Chuyện về người Việt Nam đoạt giải Nobel Hoà Bình
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Ninh


IRV - Cuối năm 2007, nhiều tờ báo đã đồng loạt đăng tin, bài về một nhà khoa học của Việt Nam được xướng tên tại Lễ trao giải Nobel Hoà Bình năm 2007. Ông là đồng tác giả của cuốn sách dày 3.000 trang về biến đổi khí hậu đã được nhận giải Nobel Hoà Bình (công trình của Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu – IPCC).

Suốt hơn 20 năm qua, ông đã dành nhiều thời gian, công sức cho vấn đề biến đổi khí hậu, cho màu xanh của cuộc sống, mà không đòi hỏi gì về vật chất, tiền bạc. Ông là TS. Nguyễn Hữu Ninh (54 tuổi) - Chủ tịch Hội đồng Quản lý Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục và Phát triển Môi trường (CERED) thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam.

Thành công bắt đầu từ ký ức tuổi thơTrong căn phòng bề thế, rộng rãi, bên cạnh bộ salon lịch sự, cổ kính, TS. Nguyễn Hữu Ninh đang lật từng trang sách mà ông đã viết lên sau nhiều năm giảng dạy, nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Phía sau bàn làm việc của ông là một tủ sách lớn, dường như tri thức của nhân loại đều hội tụ về đây, thật xứng tầm của một nhà khoa học được cả thế giới biết đến. Tôi để ý đến một bức ảnh treo trên tường, đó là hình ảnh của ông lúc bắt đầu dời quê đi du học tại Hungari. Vẻ thông minh, lanh lợi hiện trên khuôn mặt của cậu thanh niên tuấn tú này, với đôi mắt sáng và vầng trán cao. Nhìn tấm hình thời trai trẻ, TS. Nguyễn Hữu Ninh lại nhớ về tuổi thơ gian khó nhưng nhiều kỷ niệm của mình. Ông sinh ra trong một gia đình viên chức bình thường, bố mẹ đều làm viên chức ở Trường Đại học Y Hà Nội. Sinh ra tại Hà Nội, nhưng cậu bé Nguyễn Hữu Ninh đã sớm làm quen với cuộc sống ở vùng nông thôn. Những năm 1960 của thế kỷ trước, ông cùng gia đình nhiều năm phải sơ tán về Hà Tây, sau mỗi buổi lên lớp, cậu học trò Nguyễn Hữu Ninh lại về giúp mẹ làm đủ các công việc đồng áng, chăn bò, xay lúa, giã gạo, đánh dậm, mò cua, bắt cá, trồng rau xanh, nuôi gà, dê, thỏ... Tối đến lại học bên ánh đèn dầu cho đến khuya. Chính những năm tháng ở đồng quê đã nuôi dưỡng tâm hồn ông để sau này ông say mê với công tác môi trường và thấy xót xa khi môi trường bị ô nhiễm. Từ năm 1971 đến năm 1977 là thời gian ông học tập tại Hungari, rồi về nước giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1982 đến 1986, ông trở lại Viện Hàn lâm Khoa học Hungari để làm nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án Tiến sĩ, đạt loại xuất sắc chuyên ngành Sinh học. Trở về mái trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông bắt đầu nghiên cứu về môi trường và biến đổi khí hậu – chuyên ngành ông yêu thích từ khi làm nghiên cứu sinh tại Hungari về vấn đề môi trường và ô nhiễm nước ở hồ Balaton. Và “hậu phương” vững chắcNghĩ lại quãng đường đời đã đi qua, TS. Nguyễn Hữu Ninh cảm thấy mình may mắn khi có được người vợ biết cảm thông và chia sẻ. Hơn chục năm nay, bà Nguyễn Thị Hải – vợ ông đã xin nghỉ hưu sớm để về làm “hậu phương” cho chồng tại Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục và Phát triển Môi trường. Bà không chỉ là người bạn đời mà còn là đồng nghiệp cùng chung chí hướng, cùng quan tâm đến vấn đề môi trường. Bà Nguyễn Thị Hải tâm sự: “Tôi vẫn thường động viên ông tập trung vào nghiên cứu khoa học, còn công việc gia đình đã có vợ con, nên ông rất yên tâm, dành nhiều thời gian cho lĩnh vực mình yêu thích. Giải thưởng Nobel Hoà Bình là nguồn khích lệ lớn lao, là kết quả sau bao năm âm thầm nghiên cứu, để ông tiếp tục cống hiến cho màu xanh của cuộc sống, của nhân loại”. Có thể nói, đó là động lực chính để ông vượt qua những lo toan của cuộc sống đời thường, nhất là những khó khăn của thời kỳ bao cấp. TS. Nguyễn Hữu Ninh cho rằng: “Môi trường và khí hậu quyết định sự tồn vong của nhân loại, vì thế, tôi coi công việc nghiên cứu của mình là đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, trong đó có mình”. Nhận thức sâu sắc về điều đó, năm 1991, TS. Nguyễn Hữu Ninh đã lập ra Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục và Phát triển Môi trường để gửi đến loài người những thông điệp, hành động vì môi trường xanh, vì bầu khí quyển của hành tinh này. Sau 3 năm trời ròng rã nghiên cứu, ông đã đóng góp được 30 trang giấy A4 trong cuốn sách "Báo cáo lần thứ 4: biến đổi khí hậu năm 2007" và trở thành đồng tác giả của cuốn sách dày 3.000 trang về biến đổi khí hậu, nhận giải Nobel Hoà Bình 2007.

Công trình này đã trở thành bước ngoặt cho lịch sử phát triển nhân loại, buộc thế giới phải nhìn lại sự đối lập của con người với con người, và con người với thiên nhiên. Công trình đã chứng minh bằng lý lẽ khoa học về sự tác động mạnh mẽ của con người lên khí hậu của trái đất. Con người là tác nhân quan trọng nhất gây ra sự biến đổi của khí hậu hành tinh mà chúng ta đang sinh sống, ảnh hưởng tiêu cực đến sự sống của con người... Một con người gánh trên vai hai trách nhiệm, vừa là Chủ tịch Hội đồng Quản lý Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục và Phát triển Môi trường, vừa là giảng viên của Trường ĐHQG Hà Nội, TS. Nguyễn Hữu Ninh đã và đang “truyền lửa”, truyền đạt những kiến thức của mình cho thế hệ trẻ, với mong muốn họ sẽ tiếp nối sự nghiệp bảo vệ môi trường xanh cho nhân loại.
http://www.tapchicongnghiep.vn/News/channel/1/News/156/8060/Chitiet.html
Xem thêm viề tiến sĩ Nguyễn Hữu Ninh
http://vi.wikipedia.org/wiki/Thảo_luận:Nguyễn_Hữu_Ninh
 
Sửa lần cuối:

trang_xuka_1010

Cây ăn trái
Bài viết
98
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Giải thưởng Nobel về Hòa Bình lận đó. Không phải ai cũng nhận được đâu nha! Giải Nobel Hòa bình (tiếng Thụy Điển và tiếng Na Uy: Nobels fredspris) là một trong năm nhóm giải thưởng ban đầu của Giải Nobel. Theo nguyện vọng ghi trong di chúc của Alfred Nobel, Giải Nobel hòa bình nên được trao "cho người đã có đóng góp to lớn trong việc đẩy mạnh tình đoàn kết giữa các quốc gia, trong việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang và trong việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình". Có nhiều người cho rằng Nobel đã lập ra giải thưởng này trong di chúc như một cách đền bù cho các chất nổ phát minh của ông vốn được sử dụng rộng rãi trong chiến tranh như dynamit hay ballistite. Thực tế thì ngoại trừ ballistite, không một loại chất nổ nào của Nobel được sử dụng trong chiến tranh khi ông còn sống[1].

Giải Nobel Hòa bình được trao hàng năm vào ngày 10 tháng 12, ngày mất của Alfred Nobel tại thủ đô Oslo của Na Uy. Trong khi phần lớn các giải Nobel khác được trao tại Thụy Điển và do một ủy ban của Thụy Điển quyết định, thì người hoặc tổ chức được xét trao giải Nobel Hòa bình sẽ được quyết định bởi Ủy ban Giải Nobel Na Uy do Quốc hội Na Uy lập ra. Chủ tịch hiện tại của ủy ban này, tiến sĩ Ole Danbolt Mjøs cũng là một người từng được trao Giải Nobel Hòa bình. Sở dĩ có sự khác biệt này là vì vào thời điểm Alfred Nobel viết di chúc, Thụy Điển và Na Uy gần như là một liên bang trong đó Chính phủ Thụy Điển chịu trách nhiệm lĩnh vực đối ngoại còn Quốc hội Na Uy chịu trách nhiệm lĩnh vực đối nội. Alfred Nobel chưa bao giờ giải thích lý do tại sao ông lại chọn Na Uy là nước chịu trách nhiệm xét giải Nobel Hòa bình chứ không phải Thụy Điển[2], nhiều người cho rằng có lẽ Nobel muốn loại trừ việc các chính phủ nước ngoài có thể thao túng Giải Nobel Hòa bình, vì vậy ông đã chọn Quốc hội Na Uy, vốn không chịu trách nhiệm về quan hệ đối ngoại.
 
scroll-topTop