Ứng dụng Gom Rác GRAC
FACEBOOK GRAC TẶNG ĐỒ VÀ PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN

dân số và môi trường việt nam : thực trạng và thách thức trong thời gian tới

#1
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Dân số vẫn là nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự suy thoái và tàn phá môi trường trong hiện tại và tương lai. Tác hại của môi trường đối với con người chủ yếu là những tổn thất về sức khỏe, nǎng suất lao động và các tác hại khác.

i. hiện trạng dân số việt nam

Phân tích hiện trạng dân số Việt Nam được dựa vào nguồn số liệu mới công bố gần đây nhất của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số trung ương 1/4/1999. Kết quả suy rộng từ mẫu 3% số địa bàn điều tra trong cuộc tổng điều tra dân số (TĐTDS) và nhà ở đã tiến hành tại thời điểm 0 giờ ngày 1/4/1999.

Số lượng và tình hình gia tǎng dân số

Theo kết quả TĐTDS ngày 1/4/1999, dân số Việt Nam là 76.327.921 người. Tính từ cuộc TĐTDS (1/4/1989), số dân nước ta tǎng thêm 11,9 triệu người. Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình, song sau 10 nǎm, dân số vẫn tǎng thêm tương đương với số dân của một nước cỡ trung bình (trên thế giới có khoảng 120 nước trên tổng số hơn 170 nước có số dân dưới 12 triệu người).

Tỉ suất tǎng dân số bình quân của thời kỳ 1989-1999 là 17%o, giảm 5%o so với tốc độ tǎng dân số của 10 nǎm trước đó. Tốc độ tǎng dân số giữa 2 cuộc TĐTDS giảm ở tất cả các vùng, nhanh nhất ở đồng bằng sông Hồng và chậm nhất ở duyên hải Nam Trung bộ.

Tỉ suất sinh thô, tỉ suất chết thô và tỉ suất chết sơ sinh tính cho 12 tháng trước thời điểm TĐTDS tương ứng là 19,9%o, 5,6%o và 36,7%o. Tỉ suất tǎng tự nhiên là 14,3%o. Tương tự như tỉ suất tǎng dân số, các tỉ suất sinh, tỉ suất chết và tỉ suất tǎng tự nhiên dân số đều giảm nhanh ở tất cả các tỉnh và các vùng trong 10 nǎm qua.

Đến nǎm 1998, tổng tỉ suất sinh ở nước ta là 2,5 con/1 phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, giảm 35% so với TFR 10 nǎm trước. Đã có 23/61 tỉnh, thành phố đã đạt hoặc thấp hơn mức sinh thay thế (TFR Ê 2,1). Riêng khu vực thành thị, chỉ trừ 5 tỉnh (Quảng Trị, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk), tất cả khu vực thành thị của các tỉnh, thành phố còn lại đều đã đạt hoặc thấp hơn mức sinh thay thế. Đây là bức tranh tương phản với tình trạng mức sinh cao trong cuộc TĐTDS 1989, nghĩa là thay vì mục tiêu giảm sinh là mục tiêu hàng đầu trong 10 nǎm trước đây thì từ nay cần đồng thời quan tâm đến yêu cầu tiếp tục giảm sinh (nhất là ở những vùng có mức sinh còn cao), nhưng chú trọng hơn đến yêu cầu nâng cao chất lượng con người và chất lượng cuộc sống.

Phân bố dân số theo lãnh thổ

Tỉ trọng của các vùng trong tổng số dân của cả nước qua 2 lần TĐTDS 1989 và 1999 đã có sự thay đổi như sau: tǎng lên ở 3 vùng Đông Nam bộ, Tây Nguyên và Tây Bắc; giảm ở các vùng còn lại, trong đó tỉ trọng dân số của đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng giảm nhiều nhất. Đây là kết quả tổng hợp của 2 yếu tố di cư và giảm sinh của các vùng.

Do dân số tǎng lên gần 12 triệu người, mật độ dân số Việt Nam đã tǎng từ 195 người/km2 nǎm 1989 lên 231 người/km2 nǎm 1999, cao thứ 3 trong khu vực Đông Nam á (chỉ sau Singapore và Philippin) và đứng thứ 13 trong số 42 nước thuộc khu vực châu á Thái Bình Dương.

Di cư và đô thị hóa

Tỉ suất di cư (được định nghĩa bằng tổng số người đã di cư trong kì nghiên cứu chia cho số dân có khả nǎng tham gia di cư trong khoảng thời gian đã xác định, nhân với 100 hoặc 1000) tính cho thời kì 5 nǎm trước thời điểm TĐTDS là 74%o. Nếu trừ đi số người di cư giữa các xã/phường trong nội bộ mỗi huyện/quận, thì mức di cư nǎm 1999 chỉ cao hơn nǎm 1989 một chút (49,5%o so với 52,1%o). Giống như nǎm 1989, 2 vùng Tây Nguyên và Đông Nam bộ vẫn là địa điểm thu hút các luồng di dân, còn các vùng Bắc Trung bộ, đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Trung Nam bộ, đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc là những vùng có mức xuất cư cao. Khác với bức tranh di cư của thời kì 1984-1989, các thành phố lớn trong những nǎm qua đã có sức thu hút mạnh mẽ nhiều người chuyển đến làm ǎn sinh sống. Trong 5 nǎm 1994-1999, có 1,2 triệu người từ khu vực nông thôn đã nhập cư vào thành thị để làm ǎn sinh sống ổn định, trong khi đó chỉ có 422.000 người di cư theo chiều ngược lại, nghĩa là luồng di cư nông thôn - thành thị cao gấp 3 lần so với luồng di cư thành thị - nông thôn.

Dân số thành thị cả nước chỉ chiếm 23,5% tổng số dân. Trong 10 nǎm qua, tốc độ tǎng dân số thành thị hàng nǎm đạt mức trung bình của các nước châu á (3,2%), song tỉ trọng dân số thành thị của nước ta vẫn còn quá thấp so với các nước trong khu vực, chỉ cao hơn một chút so với Lào (17%). Đây cũng là một biểu hiện trình độ phát triển xã hội còn thấp của nước ta.

Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi

Tỉ số giới tính được sử dụng làm thước đo về cơ cấu giới tính của dân số và được định nghĩa bằng số nam trên 100 nữ. Tỉ số giới tính của Việt Nam khá thấp chủ yếu do hậu quả của các cuộc kháng chiến chống xâm lược từ 1946 đến 1979. Theo số liệu của các cuộc TĐTDS, tỉ số giới tính của nước ta nǎm 1979 chỉ có 94 nam/100 nữ, tǎng lên 97 nam/100 nữ vào nǎm 1999. Tỉ số giới tính của nước ta vào loại thấp nhất so với các nước châu á, chỉ cao hơn một chút so với Campuchia (94). Hai vùng Tây Nguyên và Tây Bắc có tỉ số giới tính cao nhất, tương ứng là 103 và 100, chủ yếu do mức và tỉ lệ nhập cư của 2 vùng này khá cao. Đối với nhóm trẻ sơ sinh, tỉ số giới tính đạt 107 nam/100 nữ. Do mức tử vong của nam cao hơn nữ, nên tỉ số này giảm dần qua các độ tuổi và đạt giá trị thấp nhất ở nhóm trên 65 tuổi (68 nam/100 nữ).

Do mức sinh giảm nhanh trong khi tuổi thọ ngày càng tǎng, dân số Việt Nam có xu hướng lão hóa với tỉ trọng người già (trên 65 tuổi) ngày càng tǎng: từ 4,7% nǎm 1989 lên 5,8% nǎm 1999. Đặc biệt chú ý là tỉ lệ dân số gia tǎng nhanh, gấp hơn 3 lần so với tỉ lệ tǎng dân số chung. Tỉ lệ này đặc biệt sẽ tǎng nhanh vào những nǎm giữa thế kỉ 21. Tỉ trọng trẻ em dưới 15 tuổi ngày càng giảm: từ 39% nǎm 1989 xuống còn 33,5% vào nǎm 1999. Vì vậy, tỉ lệ sống phụ thuộc chung (được tính bằng tỉ lệ % của tổng số trẻ em dưới 15 tuổi và số người già trên 65 tuổi chia cho dân số từ 15 đến 64 tuổi) của dân số nước ta liên tục giảm với tốc độ nhanh, từ 98 nǎm 1979 xuống 86 nǎm 1989 và chỉ còn 71 vào nǎm 1999.

Tình trạng hôn nhân

So với tổng điều tra dân số nǎm 1989, tỉ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên chưa kết hôn đã tǎng lên 3% đối với cả nam và nữ.

ở cả khu vực thành thị và nông thôn, tuổi kết hôn lần đầu bình quân của nữ chỉ tǎng khoảng 1/2 tuổi, nhưng của nam tǎng trên 1 tuổi, làm khoảng cách tuổi kết hôn lần đầu giữa nam và nữ tǎng lên, từ 2 tuổi trong cuộc TĐTDS nǎm 1989 lên hơn 3 tuổi trong cuộc TĐTDS nǎm 1999. Đây cũng là một yếu tố góp phần hạ thấp mức sinh nước ta trong vòng 10 nǎm qua.

ii. dân số tác động đến suy thoái, ô nhiễm, tác hại cho tài nguyên môi trường nước ta

Những tác hại của môi trường đối với con người chủ yếu là những tổn thất về sức khỏe, nǎng suất lao động và các tác hại khác. Sức khỏe, niềm hạnh phúc của con người bị giảm sút do ốm đau và chết yểu, vì suy thoái chất lượng nước và không khí, vì những nguy hiểm khác của môi trường. Các chất gây ô nhiễm có thể làm nảy sinh những vấn đề về y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp do sự thay đổi môi trường vật lý, tác động của nó trải rộng từ việc tǎng bức xạ mặt trời đến việc giảm dinh dưỡng. Sức khỏe bị suy yếu làm giảm nǎng suất lao động của con người và sự suy thoái môi trường làm giảm hiệu nǎng của nhiều nguồn tài nguyên mà con người sử dụng trực tiếp.

Rừng

Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, rừng nước ta bị tàn phá một cách nhanh chóng. Trong vòng 50 nǎm qua, diện tích rừng nước ta đã bị giảm hơn một nửa, từ 19 triệu ha xuống còn 9 triệu ha, bình quân mỗi nǎm 200 ngàn ha. Nguyên nhân của tình trạng trên, ngoài khai thác gỗ và các loại lâm sản một cách bừa bãi, còn do nhu cầu lương thực cho số dân tǎng quá nhanh đòi hỏi phải phá rừng mở rộng diện tích canh tác. Một số dân tộc ít người có tập quán du canh, du cư, rừng sau khi đốt phát thành nương rẫy chỉ gieo trồng được vài ba vụ là lại phải di chuyển sang nơi khác phá rừng làm nương rẫy mới. Quá trình trên cứ lặp đi lặp lại hết đời này sang đời khác làm cho diện tích rừng tự nhiên nhanh chóng bị thu hẹp lại. Rừng không chỉ là nguồn cung cấp gỗ mà còn có các chức nǎng xã hội và sinh thái rộng lớn. Diện tích rừng giảm sút, diện tích đất trống, đồi trọc tǎng lên làm lũ lụt xảy ra nhiều hơn.

Biển

Hệ sinh thái cửa sông ven biển là một vùng có ý nghĩa quan trọng và là đối tượng chịu sự biến động của cả hai yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Con người là nguyên nhân chủ yếu làm tổn hại môi trường ven biển. Các vùng cửa sông và nước nông chịu sự ô nhiễm do nước thải từ các thành phố đông dân, các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp, do thǎm dò dầu khí ở các thềm lục địa, do bốc dỡ hàng, đặc biệt là các sản phẩm dầu từ các hải cảng. Việc khai thác bừa bãi rừng ngập mặn để xây dựng các ao nuôi trồng thủy sản, lấy gỗ làm nhà, cung cấp củi đốt và làm than...làm tǎng sự phá hủy do sóng, thủy triều và bão. Các công trình thi công ven biển, việc khai đào cát, khai thác đá bãi biển gây ảnh hưởng đến địa mạo bờ biển.

Khoáng sản

Nếu tài nguyên, khoáng sản không được khai thác hợp lý sẽ tàn phá môi trường, gây hậu quả xấu đến sự phát triển kinh tế và đời sống sức khỏe con người. Tác động lớn nhất của khai thác khoáng sản đến môi trường là của các mỏ, bãi thải, khí độc, bụi và nước thải. Bãi thải không có các công trình xử lý đã làm trôi lấp ruộng, vườn, sông suối, làm ô nhiễm nguồn nước, gây bụi. Gần một nửa số người bị bệnh bụi phổi (lao silicosis) tập trung tại vùng khai thác than Quảng Ninh. Nồng độ bụi tại các nơi khảo sát đều lớn hơn giới hạn cho phép 30-100 lần.

Môi trường nước

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều nên tài nguyên khá phong phú. Số lượng sông suối có chiều dài trên 10km đạt tới con số 2.340 nghĩa là bình quân cứ 141km2 có một sông. Khoảng 66% số sông suối có diện tích lưu vực dưới 100km2.
 
#2
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Hầu hết các xí nghiệp công nghiệp và các thành phố lớn của nước ta đều được xây dựng trên bờ các con sông lớn và bờ biển. Nước thải chưa được xử lý đổ trực tiếp ra sông, ra biển. Theo tính toán, hằng nǎm, hoạt động công nghiệp của nước ta đã thải ra khoảng 290 ngàn tấn các chất độc hại vào môi trường nước. Tại khu công nghiệp Việt Trì, hàng nǎm các xí nghiệp đã thải vào sông Hồng khoảng 2000 tấn H2SO4, 2000 tấn COD, 542 tấn HĐ, 362 tấn lignin, 42 tấn H2S. Hà Nội hàng ngày có khoảng 300 ngàn m3 nước thải, hàng nǎm thải vào sông, hồ khoảng 3600 tấn hữu cơ, 317 tấn dầu mỡ, hàng chục tấn kim loại nặng, dung môi và các chất độc hại khác. Mỗi nǎm, khu công nghiệp Sài Gòn- Biên Hòa thải vào môi trường 795,8 tấn dầu mỡ, 45.691 tấn lơ lửng, 231 tấn dung môi, 103 tấn phenol, 68,5 tấn lignin, 99.600 tấn hữu cơ, 65 tấn H2S, 4045 tấn nitơ, 763 tấn phospho, 80,7 tấn acid, 4715 tấn kiềm, hàng chục tấn kim loại nặng và chất độc hại khác. Trong nông nghiệp, nhiều loại phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đã được sử dụng. Hằng nǎm, nước ta sử dụng từ 15.000 đến 25.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Lượng phân NPK được sử dụng trung bình là 73,5kg cho 1 ha canh tác. Lượng thuốc trừ sâu và phân hóa học dư thừa sẽ theo nước đi vào các thủy vực và nguồn nước làm ô nhiễm chúng.

Môi trường không khí, ánh sáng mặt trời

Khí hậu VIệt Nam có hai mùa chính được cách nhau bằng hai thời kỳ chuyển tiếp ngắn. Gió mùa đông từ giữa tháng 11 đến hết tháng 3. Từng đợt gió mùa đông bắc thổi tới miền Bắc Việt Nam đem theo khối không khí cực đới lục địa lạnh và khô. Tại miền Nam thịnh hành tín phong Đông Bắc gây ra thời tiết nóng ẩm và khô. Về ô nhiễm không khí, theo kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng không khí ở những khu vực xa thành phố và khu công nghiệp còn trong sạch, các chỉ tiêu chất lượng không khí còn ở dưới giới hạn cho phép. Trong khí đó, chất lượng không khí tại các khu công nghiệp và một số thành phố đã giảm sút, nhiều nơi bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng, nhiều chỉ tiêu chất lượng, nồng độ vượt qua giới hạn cho phép. Ngay tại thủ đô Hà Nội, nồng độ bụi từ 2,1 đến 45,8mg/m3, gấp từ 4 đến 90 lần giới hạn cho phép (0,5mg/cm3). Tại Bắc Giang, nồng độ bụi cũng vượt quá giới hạn cho phép từ 2 đến 40 lần (từ 1-19mg/cm3). Việt Tri là nới ít bụi hơn hai địa phương trên nhưng nồng độ bụi lúc cao nhất cũng vượt giới hạn cho phép tơí 24 lần (0,4 đến 11,9 mg/cm3). Nếu giới hạn cho phép về nồng độ NH3 trong không khí là 0,0002 mg/cm3 thì nồng độ NH3 tại Hà Nội cũng từ 0,002 đến 0,05mg/cm3, tại Việt Trì từ 0,001 đến 0,034 mg/cm3, còn tại Bắc Giang tối đa là 0,0017 mg/cm3. Trong 3 địa điểm nói trên, chỉ có nồng độ SO2 là ở mức dưới giới hạn cho phép. Không phải chỉ hoạt động công nghiệp mới làm ô nhiễm không khí do các chất thải, hoạt động nông nghiệp cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường khí do phát thải các khí NH3, CH4 từ phân hữu cơ, nhất là phân động vật, N2O và NO từ phân đạm, CO2 và các chất khí độc khác do đốt các sản phẩm sinh học, phế thải nông nghiệp, đốt phá rừng làm nương rẫy. Như vậy, có thể khẳng định rằng, dân số tǎng nhanh không chỉ đòi hỏi phải gia tǎng sản xuất công nghiệp, nông nghiệp gây ra ô nhiễm môi trường mà nó còn làm trầm trọng thêm nạn ô nhiễm không khí ngay trong hoạt động sinh hoạt bình thường của họ. Thực trạng ô nhiễm không khí còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.

Hóa chất là một trong những ngành công nghiệp thải ra nhiều chất độc hại vào cả các môi trường đất, nước và không khí, trực tiếp ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của công nhân. Hàm lượng chất độc hại trong không khí khu vực sản xuất của các cơ sở sản xuất hóa chất thường vượt rất xa tiêu chuẩn qui định. Ngành công nghiệp dệt chiếm 65% giá trị tổng sản lượng của ngành công nghiệp nhẹ, công nghệ gồm kéo sợi, dệt, nhuộm. Trong công đoạn tẩy trắng hầu hết đều dùng clo hoặc các hợp chất của clo. Nước thải sau khi nhuộm có thành phần gồm clo, sulfat, nitrat, các acid HCl, H2SO4 và xút. Trong sản xuất, lượng nước thải khoảng 0,13m3 cho một mét vải. Nồng độ bụi của các nhà máy thuộc ngành dệt cũng khá lớn, tức là cao gấp 2 hoặc 3 lần giới hạn cho phép. Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, sản xuất xi mǎng, gạch, vôi, sứ là chủ yếu. Trong ngành này, ô nhiễm chủ yếu là bụi và khói do nhiên liệu cháy và do nguyên liệu khi nung nóng phát ra, nồng độ bụi cao hơn định mức cho phép từ 32 đến 111 lần. Nồng độ bụi trong các xí nghiệp gạch cũng khá cao, cũng có nồng độ bụi cao hơn tiêu chuẩn từ 2 đến 64 lần. Trong công nghiệp sứ, xí nghiệp sứ cũng có nồng độ bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 63 đến 327 lần.

Mặc dù trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn về khống chế tỉ lệ phát triển dân số, nhưng do tồn tại của những giai đoạn trước đây, dân số vẫn là nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự suy thoái và tàn phá môi trường trong hiện tại và những tương lai. Thách thức này đặt ra nhiệm vụ cho chúng ta trước Đảng và nhân dân là phải có chiến lược đúng đắn thực hiện tốt nhiệm vụ dân số và bảo vệ môi trường ngay trong những nǎm tới.
 
Top