Ứng dụng Gom Rác GRAC

Đất ngập nước

daibangxanh

Well-Known Member
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Theo công ước RamSar,( Điều 1.1), các vùng đất ngập nước được định nghĩa như sau: “Các vùng đầm lầy, đầm lầy đất trũng, vùng đất than bùn hoặc nước, tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước đứng hay chảy, nước ngọt, lợ hay mặn, kể cả những vùng nước biển với độ sâu ở mức triều thấp, không quá 6m”.
Ngoài ra, Công ước ( Điều 2.1) còn quy định các vùng đất ngập nước: “ Có thể bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nước, cũng như các đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nước”.

Giá trị và chức năng của đất ngập nước:

Các chức năng của đất ngập nước:
Các mối tương tác của các thành phần lý, sinh và hoá của một vùng đất ngập nước như đất, nước, thực vật và động vật, đã giúp vùng đất ngập nước đó thực hiện chức năng nhất định, như:
- Lưu giữ nước;
- Chống bão và giảm lụt;
- Ổn định đường bờ và chống xói mòn
- Nạp lại nước ngầm (di chuyển nước từ vùng đất ngập nước xuống tầng ngậm nước ngầm);
- Cấp nước ngầm( di chuyển nước lên và trở thành nước nước mặt ở vùng đất ngập nước);
- Lọc nước;
- Giữ các dưỡng chất
- Giữ các cặn lắng;
- Giữ các chất ô nhiễm;
- Ổn định các điều kiện khí hậu cục bộ, nhất là lượng mưa và nhiệt độ.

Các giá trị của đất ngập nước:

Các vùng đất ngập nước là những môi trường có năng suất nhất của thế giới, là những chiếc nôi của đa dạng sinh học cung cấp nước và năng suất sơ cấp để vô số các loài động và thực vật tồn tại. Các giá trị cụ thể của đất ngập nước là:
- Cấp nước (cả lượng lẫn chất). Ví dụ như một vùng đất ngập nước có giá trị khoảng vài chục hectares sẽ có khả năng lọc và xử lý nước thải tương đương với một trạm xử lý nước nhiều triệu dollars.
- Nguồn lợi thuỷ hải sản: Trong số 20.000 lòai cá trên thế giới, hơn 40% sống trong nước ngọt, hơn 2/3 sản lượng cá có liên quan đến sự lành mạnh của các vùng đất ngập nước);
- Nông nghiệp, thông qua việc duy trì các mức nước; Ví dụ, lúa là một thực vật phổ biến của đất ngập nước, là nguồn thực vật của hơn một nửa nhân loại. Các vùng đất ngập nước còn lại là những vật liệu di truyền thực vật.
- Sản xuất gỗ;
- Cung cấp các nguồn năng lượng, như than bùn và chất thực vật;
- Các nguồn tài nguyên động vật hoang dã: Các vùng đất ngập nước hỗ trợ cuộc sống của rất nhiều quần thể chim, động vật có vú, bò sát, lưỡng cư. cá và các loài động vật không xương sống.
- Các cơ hội giải trí và du lịch.
Ngoài ra, các vùng đất ngập nước còn có các đặc tính đặc biệt về di sản văn hoá của loài người; các vùng đất ngập nước có liên quan đến tín ngưỡng và vũ trụ, hình thành nên nguồn khát vọng thẩm mỹ, tạo ra các vùng sinh cảnh của đời sống hoang dã, cũng như tạo cơ sở cho các truyền thống quan trọng địa phương.

Đất ngập nước ở Việt Nam

Hiện trạng các vùng đất ngập nước ở Việt Nam

Việt Nam là một nước giàu các hệ sinh thái đất ngập nước, với diện tích ĐNN hơn 10 triệu ha, chiếm 1/3 diện tích đất đai cả nước, chủ yếu phân bổ ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long với các hệ sinh thái đầm phá, các bãi bùn, các vùng cửa sông, rừng ngập mặn dọc theo bờ biển từ Móng cái đến Hà Tiên.
ĐNN ở Việt nam rất đa dạng về loại hình, chức năng, gắn liền với tính đa dạng điều kiện tự nhiên của Việt Nam. Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học của Việt Nam (1995) đã xác định 61 khu đất ngập nước quan trọng và gần đây Cục Môi trường thuộc Bộ tài nguyên & Môi trường đã đưa ra danh sách gồm 79 khu đất ngập nước có tầm quan trọng Quốc Gia.
Theo bảng phân loại ĐNN của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN – 1990), ĐNN Việt Nam có thể chia làm 3 hệ lớn đó là ĐNN ven biển, ĐNN nội địa, và ĐNN nhân tạo, bao gồm 12 phụ hệ: Biển, cửa sông, đầm phá, hồ nước mặn ven biển, sông, hồ, đầm lầy, vùng nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp, nơi khai thác muối, đất đô thị, đất công nghiệp.
Các vùng ĐNN trên phân bố ở tất cả các vùng địa lý (Tây bắc, Việt Bắc, Đông Bắc, đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông nam Bộ và Tây Nam Bộ ) và ở các địa hình khác nhau (miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển). Việt Nam hiện có trên 60 vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế như: vườn quốc gia Xuân Thủy (được công nhận là khu Ramsar), khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, vườn quốc gia Tràm Chim, phá Tam Giang- Cầu Hai, Hồ Lak, hồ Ba Bể, bãi triều tây nam Cà Mau, .v.v...
Riêng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có tổng diện tích phần đất liền là 4 triệu ha. Nếu tính cả diện tích vùng ven biển cạn dưới 6 mét thì tổng diện tích của ĐBSCL là 5.117.590 ha. Gần 90% tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng được coi là đất ngập nước, trong thực tế đây là vùng đồng bằng đất ngập nước điển hình của vùng hạ lưu sông Mê-kông. Hệ thống phân loại đất ngập nước cho vùng hạ lưu sông Mekong”(1993) của Uỷ hội Sông Mê Kông đã phân loại đất ngập nước cho vùng ĐBSCL với 05 loại đất ngập nước chính. Trên sở 5 loại chính đã phân chia thành 40 dạng (type) đất ngập nước khác nhau. Hai hệ sinh thái rừng tiêu biểu đã hình thành trên các vùng đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long là hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái rừng tràm.
Đất ngập nước ở đồng bằng sông Cửu Long có nhiều giá trị và các chức năng quan trọng. Sự đa dạng sinh học và các tài nguyên của đất ngập nước có ý nghĩa lớn trong quá trình phát triển của đồng bằng. Hàng năm, đồng bằng sông Cửu Long cung cấp trên 40 % tổng sản lượng lương thực của cả nước và là nơi cư ngụ của trên 17 triệu người. Ngày nay, sản lượng lương thực và thủy sản của toàn đồng bằng đóng góp 1/3 tổng thu nhập quốc dân của cả nước. Các hệ sinh thái rừng ngập mặn và rừng tràm có nhiều giá trị trong việc cung cấp sản phẩm, duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn thiên nhiên; cung cấp nơi kiếm ăn, khu cư trú cho các loài chim qúi hiếm như : Sếu đầu đỏ, cồng cộc , ô tác , giang sen... và các loài sinh vật nước như: cua, cá, tôm; cung cấp dinh dưỡng, tài nguyên thiên nhiên cho con người. Hệ sinh thái rừng tràm có vai trò rất quan trọng như: hạn chế quá trình sinh phèn ở lớp đất mặt và nước mặt; lưu trữ lượng nước ngọt trong năm, duy trì độ ẩm của đất; Rừng tràm còn góp phần điều tiết khí hậu, duy trì độ ẩm không khí và hạn chế quá trình bốc hơi, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.

Một số thách thức đối với công tác quản lý và phát triển bền vững đất ngập nước ở Việt Nam hiện nay:

Hệ sinh thái (HST) đất ngập nước ở nước ta rất đa dạng và phong phú và mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế và xã hội. Trong những năm gần đây, vấn đề ngập nước ngày càng thu hút nhiều hơn sự quan tâm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Nhiều chức năng, giá trị của ĐNN ngày càng được làm rõ, đồng thời cũng phát hiện những thách thức to lớn đối với ĐNN. Có thể kể đến một số thách thức lớn như sau:
- Nhiều HST đất ngập nước chưa được biết đến và và chưa được điều tra, đánh giá về chức năng sinh thái, tiềm năng kinh tế, giá trị bảo tồn đa dạng sinh học.
- Chưa có qui hoạch tổng thể ĐNN cho mục đích bảo tồn và khai thác để phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội. Các HST đất ngập nước ở nước ta đang bị khai thác bừa bãi, không phù hợp với chức năng và giá trị kinh tế, sinh thái nên hiệu qủa thấp, gây những hậu quả lâu dài khó khắc phục.
- Môi trường sống, nơi di cư của nhiều lòai sinh vật bị phá hủy, bị ô nhiễm, đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên ĐNN bị suy giảm nghiêm trọng do các họat động kinh tế xã hội – nhân sinh như: (chiến tranh, chuyển đổi mục đích sử dụng, xây dựng cơ sở hạ tầng và đào kinh thuỷ lợi, chất thải công nghiệp, đô thị và sinh hoạt, nuôi trồng và chế biến thủy sản, đánh bắt thủy sản bằng phương pháp có tính hủy diệt, chặt phá rừng ngập mặn, phá hủy rạn san hô và cỏ biển, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón không hợp lý trong sản xuất nông nghiệp, và các họat động kinh tế khác thiếu qui họach ...); và do các qúa trình tự nhiên (xói lở, bão lũ, hạn hán, cháy rừng, mặn hóa, ngọt hóa...).
- Dân số gia tăng quá nhanh, phương thức và tập quán lạc hậu, sự nghèo đói tại các vùng ĐNN và vùng xung quanh đã dẫn tới việc khai thác cạn kiệt tài nguyên ĐNN, làm thu hẹp diện tích ĐNN và làm biến đổi nhiều lọai hình ĐNN theo chiều hướng bất lợi.
- Hệ thống chính sách và pháp luật để quản lý ĐNN còn thiếu đồng bộ và chưa hoàn thiện, vẫn chưa có một chiến lược hay văn bản mang tính định hướng cụ thể. Các điều khoản qui định pháp lý có liên quan đến ĐNN bị phân tán, chồng chéo, thiếu cụ thể trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác nhau, nên rất khó thực thi và thực thi kém hiệu quả.
- Đầu tư nguồn lực cho việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN chưa tương xứng với tiềm năng và giá trị của nó. Nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu khoa học, xây dựng các mô hình phát triển bền vững ĐNN, cho việc bảo tồn, bảo vệ môi trường và tài nguyên vùng ĐNN còn ở mức thấp, không hợp lý, thiếu cân đối.
- Việc quản lý ĐNN chưa hợp lý, thiếu thống nhất và hiệu quả thấp vì thiếu những qui họach tổng thể và các cơ chế hợp tác còn kém hiệu quả. Chính quyền và cộng đồng địa phương chưa thể hiện vai trò, trách nhiệm trong quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN.
- Vai trò của cộng đồng sinh sống trên các vùng đất ngập nước và các vùng lân cận có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái ĐNN nhưng chưa được phát huy; chưa thực hiện được việc khai thác tiềm năng của ĐNN góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thậm chí ở nhiều nơi lợi ích của cộng đồng còn bị xâm hại, gây nguy cơ bất ổn định trong vùng.
 
Top