Ứng dụng Gom Rác GRAC
FACEBOOK GRAC TẶNG ĐỒ VÀ PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN

ESA - Phân tích hệ thống môi trường

#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
PHÂN TÍCH HỆ THỐNG MÔI TRƯỜNG (ENVIRONMENTAL SYSTEM ************YSIS = ESA)
Phân tích hệ thống môi trường là một môn học mới, xuất phát từ nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy ngành môi trường của nhiều trường đại học trên thế giới. Theo xu hướng mới, cần trang bị cho người học phương pháp luận, phương pháp và công cụ thay vì chỉ trang bị kiến thức. Những vấn đề môi trường ngày nay không giống những vấn đề đặt ra ở giữa thế kỷ thứ 19, lúc mà các nhà khoa học còn đang nghiên cứu về sinh thái học, nghiên cứu các hệ sinh thái tự nhiên, mối quan hệ giữa các quần thể sinh vật (động thực vật = “sinh”) với môi trường sống của chúng (môi trường sinh - địa – lý-hóa = “thái).
Các vấn đề môi trường ngày nay biến đổi theo quá trình phát triển kinh tế, sản xuất và do chính hoạt động của con người gây ra: ô nhiễm do sản xuất công nghiệp, do chất thải công nghiệp, sinh hoạt, y tế. . . chứ không dừng lại ở các nhiễu loạn thiên nhiên như lụt lội, hạn hán, mưa đá. . . . . Những vấn đề môi trường phát sinh ngày nay chủ yếu xuất phát từ hoạt động của con người nghĩa là do mối quan hệ tương tác phức hợp giữa hệ thống xã hội trong đó giữ vai trò quan trọng nhất là các hệ thống sản xuất với hệ sinh thái tự nhiên.
Các hệ thống môi trường trong thực tế Việt nam có thể nhận biết trong 10 nhóm:
1. Các khu Bảo tồn thiên nhiên, khu du lịch sinh thái, Vườn quốc gia (Các HST Rừng)
2. Các khu vực nông nghiệp, trang trại, vườn cây ăn trái, công nghiệp (HST Nông nghiệp)
3. Các hệ sinh thái đất ngập nước (rừng ngập mặn, rừng tràm U minh, các đầm phá ven biển)
4. Các khu vực đầm nuôi tôm, làng cá bè trên sông, trên hồ đập thủy lợi, thủy điện (HST ao hồ)
5. Các khu vực ven biển (coastal zone), biển đảo (HST ven bờ biển, biển).
6. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (các ngành khác nhau)
7. Các khu công nghiệp, khu chế xuất (tập hợp nhiều doanh nghiệp).
8. Các cảng biển, cảng hàng không, kho bãi.
9. Các bệnh viện
10. Các khu đô thị dân cư và hỗn hợp (HST Đô thị)
Các đối tượng cần quản lý môi trường nói trên là các hệ thống phức hợp của các thành phần tự nhiên, xã hội, kỹ thuật công nghệ (tùy theo mức độ khác nhau).

Vì vậy, để nhận thức và quản lý nhằm phát triển bền vững, tìm ra nguyên nhân gây ô nhiễm để ngăn chặn, nắm vững mối quan hệ tương tác giữa các thành phần trong hệ thống, cần thiết phải tiếp cận các vấn đề môi trường (qui hoạch, quản lý, dự báo, khắc phục, ngăn ngừa. . .) theo phương pháp luận của khoa học hệ thống (system science), thực hiện phân tích các hệ thống môi trường (ESA).

Qua đó, có thể nhận thức là ESA là sự vận dụng tư duy hệ thống để hiểu biết sâu sắc có tính hệ thống về những hoạt động của con người tác động đến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra được các giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn các nguy cơ làm suy thoái môi trường tự nhiên, đồng thời làm cho xã hội ngày càng phát triển theo hướng bền vững.

Môn học giúp cho người học trang bị quan điểm “tòan diện” “thấy rừng chứ không chỉ thấy cây” trong phương pháp tư duy, từ đó, tìm thấy những lợi ích to lớn trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn làm việc ở ngành môi trường và tài nguyên và cuộc sống đời thường.

Khoa học hệ thống, điều khiển học đã được phát triển từ cuối thế kỷ 19 và có tác dụng rất lớn lao trong quá trình phát triển các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học truyền thông, máy tính, y khoa, sinh học và quản lý kinh tế.

Nguồn: Giáo trình phân tích hệ thống - TS. Chế Đình Lý
 
Top