Ứng dụng Gom Rác GRAC

Human master for HSE policy (Vấn đề con người trong quản lý các chính sách an toàn, sức khỏe và môi

#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Vấn đề con người trong quản lý các chính sách an toàn, sức khỏe và môi trường
Như chúng tôi thường đề cập trong các bài viết trên HSEVN. Vấn đề con người là trọng tâm và mấu chốt của hầu hết các vấn đề. Vậy yếu tố con người tác động đến các vấn đề về An toàn, Sức khỏe và Môi trường như thế nào? Là nhà quản lý chúng ta cần quan tâm tới điều gì?

Với bất kỳ một tổ chức hay công việc nào thì cũng được chi phối bởi ba yếu tố đó là:
- Yếu tố con người
- Đặc thù công việc
- Môi trường làm việc

Tại sao chúng ta phải quan tâm nhiều tới yếu tố con người?

Trong những động thái truyền thống của việc quản lý an toàn là tập trung vào các vấn đề như thiết bị, cơ sở vật chất và nguyên liệu sản xuất. Học thuyết này khá đúng khi nó đã làm giảm thiểu được phần lớn các vụ tai nạn. Tuy nhiên, ngày nay sau những số liệu điều tra từ các tai nạn, chúng ta lại đi đến một kết luận mới đó là tính tác nhân trong mỗi vụ tai nạn. Đó là những hành vi mất an toàn của con người. Các hành vi mất an toàn này góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra tai nạn và sự cố.
Khi nghiên cứu các hành vi của con người trước những hành vi mất an toàn và dẫn đến tai nạn chúng tôi nhận ra rằng các yếu tố sau là cội nguồn của vấn đề:

- Ý thức
- Động cơ hành động
- Giáo dục
- Lỗi cơ bản
- Hạn chế về trí tuệ hoặc thể năng

Những yếu tố trên phần nào có thể thay đổi được bằng các hình thức giác ngộ như đào tạo. Thông tin, truyền thông..vv
Khi xem xét, phân tích những yếu tố có thể tác dụng, hoặc làm thay đổi được những hành vi của con người chúng ta cần xem xét các khía cạnh:

- Kinh nghiệm đã trải qua
- Các loại hình đào tạo, hoặc thông tin đã được đào tạo
- Tuổi tác, Giới tính
- Số đo và tình trạng cơ thể
- Stress, các yếu tố hoặc áp lực dẫn đến stress
- Bạn bè, người làm chung
- Gia đình,
- Tham vọng cá nhân
- Sở thích, nghề nghiệp

Nói chung, ý thức được hình thành bởi nhiều nhân tố. Trong đó có cả những yếu tố thừa kế những đặc điểm riêng của từng con người. Kinh nghiệm, nhận thức giác ngộ từ những gì từng xảy ra xung quanh. Nhận thức giác ngộ bằng các tác động do quảng cáo, thông tin. Ý thức của mỗi người còn phụ thuộc vào bản năng và chất lượng thông tin mà người đó nhận và tiếp thu được.

Khi ta muốn thay đổi ý thức của một người nào đó. chúng ta cần tìm hiểu kỹ những tác động cần thiết nên suy nghĩ, sự giác ngộ của người đó. Tuy nhiên Ý thức có thể thay đổi theo hai chiều, tốt và xấu. Trong việc nghiên cứu ý thức với các hành vi An toàn hay mất an toàn, thì việc thay đổi ý thức chỉ là phần rất nhỏ tác động vào các hành vi ứng xử mà thôi. Nhưng việc thay đổi được các hành vi ứng xử sẽ tác động rất nhanh đến ý thức của mỗi người. Điều này có thể được chứng minh qua việc chúng ra đưa một người vào một tổ chức nào đó, nơi đó có tất cả mọi người mang trang thiết bị bảo hộ cá nhân, người mới vào sẽ tuân thủ các nghi thức tập quán có sẵn và sẽ luôn ý thức được rằng việc đó là cần thiết trong môi trường mà anh ta đang làm việc.

Tóm lại, Ý thức con người chi phối khá nhiều các họat động ứng xử của người đó. Nhưng khi chúng ta muốn thay đổi hay nói một cách khác là làm tiến bộ hay phát huy các hành vi an tòan thì chúng ta phải thiết lập một kế họach hoặc dùng các công cụ hữu ích để thay đổi hành vi ứng xử trước công việc.

Động cơ hành động

Động lực nào đó khiến một ai đó làm một việc nào đó chúng ta gọi nôm na là động cơ hành động của người đó. Con người có những động cơ khác nhau vì người ta cảm thấy cần phải làm như thế hay nhận thức rằng họ nên làm như thế.

Trong nhiều nghiên cứu về hành vi của con người liên quan tới ý thức, bản chất và sự tiếp thu thì con người thường có những hành động nhắm tới nhiều mục đích khác nhau như:
- Tài chính
- Nhu cầu thực phẩm
- Nhu cầu giải trí
- Mục tiêu cá nhân
- Sự hoàn thiện

Trong các tổ chức, công ty. Việc động lực thúc đẩy các hành vi tuân thủ các quy định an toàn thường được bắt đầu bằng:
- Sự duy trì công việc.
- Sự khen ngợi, phần thưởng
- Một phần rất nhỏ hiểu được rằng các quy định thực thi có lợi cho chính cá nhân của mình.

Trong quản lý các chính sách thực thi về An tòan. Việc thường xuyên đưa ra và áp dụng các chương trình khuyến khích mang lại các lợi ích cá nhân (tài chính, vị trí công việc, cơ hội cho tương lai..vv) sẽ làm suy trì tính năng động trong vấn đề thúc đẩy động lực thực hiện các hành vi an tòan và quy tắc ứng xử an tòan. Những thông tin đầy đủ về các lọai tai nạn nghiêm trọng xảy ra tại những tình huống tương tự luôn là những thông tin tốt về mặ nâng cao sự hiểu biết và kinh nghiệm ứng phó tình huống.

Làm sao để con người luôn chủ động hướng tới các hành vi ứng xử an toàn?

Hành vi ừng xử an toàn là những thái độ phản ứng làm tiền đề cho các động cơ thực hiện những hành vi an toàn. Con người lúc đó nhận thức được sự an toàn cho chính họ và cộng đồng xung quanh. Từ đó con người sẽ luôn nghĩ, suy xét, tính toán về các hành vi trong tương lai để đạt được mục đích chính là sự an toàn cho bản thân và cộng đồng.

Đưa mọi người vào khuân khổ các quy định không phải là hình thức phát huy động lực, nhưng đôi khi cũng là những giải pháp cần thiết để thực thi những quy định nếu như những quy định trên cho thấy tính khả thi và có lợi. Những lý do để đưa ra các quy định về An toàn, Sức khỏe và Môi trường luôn phải rõ ràng và thuyết phục đến những người phải thực thi theo chúng. Các kinh nghiệm về An toàn sẽ trở thành sở thích hoặc thói quen khi chúng luôn được tăng cường hiện diện và thực thi ở nơi làm việc.

Giá trị nhận thức về các mối nguy hiểm phải luôn được củng cố và nâng cao. Từ đó con người luôn tự mình nhận thấy cần phải trao dồi và đề cao sự an toàn cho chính họ. Vấn đề này dễ dàng đạt được khi chúng ta tổ chức cung cấp, trao đổi các thông tin, kinh nghiệm cũng như các bài học rút ra từ những sự cố hoặc tai nạn trước đó.

Có rất nhiều cách để doanh nghiệp, công ty hoặc tổ chức của bạn nên áp dụng và thực thi nhằm khuyến khích, thúc đẩy các động cơ hành động vì An toàn trong đội ngũ nhân viên của mình. Việc xem xét cụ thể ở từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng cũng phải được quan tâm một cách đúng mực. Các chương trình sau đây nên được áp dụng triệt để và thực thi chu đáo

- Làm tăng sự nhận thức về các mối rủi ro bằng cách tổ chức cho mọi người tham gia các buổi thảo luận và đánh giá rủi ro.

- Truyền đạt đầy đủ và rộng rãi những thông tin về tai nạn, sự cố một cách khách quan. Chia sẻ các bài học rút ra từ những tai nạn, sự cố đó

- Đưa ra các tiêu chí, tiêu chuẩn cá nhân và mục tiêu phấn đấu nhằm mục đích đưa mọi người tham gia vào các chương trình hành động an toàn cũng như khuyến khích các hành vi ứng xử an toàn.

- Khẳng định và cam kết việc thực thi các chính sách, quy định về An toàn, Sức khỏe và Môi trường

- Việc theo dõi, đánh giá và kiểm tra phải rõ ràng và hiện diện ở mọi nơi trong tổ chức và nơi làm việc

- Luôn chào đón và tiếp thu các ý kiến xây dựng cũng như các ý kiến phản bác về các hành vi mất An toàn.

- Tạo mọi điều kiện để mọi người tham gia, trao đổi và xây dựng việc theo dõi, đánh giá và xây dựng hệ thống quản lý cũng như các chính sách thực thi.

- Tìm những mô hình mẫu, tiêu biểu để biểu dương, khen thưởng và học hỏi, chia sẻ.

Sự nhận thức

"Chúng ta hiểu một vấn đề nào đó như thế nào"

Sự nhận thức là một quá trình cảm nhận, tích lũy và chấp nhận những cảm nhận đó.

Ví dụ như chúng ta nhận ra chiếc lá màu xanh, lưỡi dao sắc nhọn, sức nóng của ngọn lửa. Mùi thơm của hương hoa vv.

Tất cả các giác quan mà chúng ta có như nghe, nhìn, sờ, ngửi, nếm.vv đều hoạt động đồng thời và liên kết với nhau. Chúng đưa ra các thông tin nhận dạng, xử lý các thông tin đó để đưa đến một kết quả. Não bộ của chúng ta sẽ nhận kết quả đó và chấp nhận dữ liệu, thông tin mà các giác quan mang lại. Tuy nhiên các cơ quan giác quan mà chúng ta có đôi khi cũng gởi những thông tin khác nhau, lúc đó chúng ta sẽ phải "thông dịch" chúng với nhau, đôi khi dự "thông dịch" hay diễn giải trên cũng đưa đến những kết luận không nhất quán tại một thời điểm nào đó.
Sự nhận thức của mỗi người dựa trên khả năng nhận diện của các giác quan, cảm quan. nhiều khi còn do khả năng phân tích thông tin mà người đó nhận được. Sự cảm nhận hay sự nhận thức này cũng được tác động và ảnh hưởng khá nhiều từ điều kiện môi trường, kinh nghiệm hoặc tình trạng cơ thể của mỗi người.

Con người luôn có khuynh hướng mắc phải những sai lầm và không nhận ra đâu là những rủi ro trong đó. Điều này phụ thuộc vào sự giới hạn về kinh nghiệm cá nhân của mỗi người khác nhau. Con người sẽ học được từ những gì trải qua từ đó sự nhận thức, ý thức, thái độ cũng sẽ thay đổi tương ứng với những gì họ tiếp nhận được.
Một lẽ rất tự nhiên là những hành vi mất an toàn thường ít khi trực tiếp gây ra các tai nạn. Từ đó con người có một thái độ dửng dưng trước các mối nguy hiểm và cho rằng "Chưa có gì xảy ra và sẽ chẳng sao cả" hay "tôi gặp nhiều, nhưng chẳng có gì xảy ra với tôi cả". Những suy nghĩ kiểu thế này là sự gia tăng, hay gia cố cho các suy nghĩ bảo thủ khi thực thi các hành vi mất an toàn.
Trong một số trường hợp, chúng ta nhận ra các mối nguy hiểm và nhận thức được lợi ích của việc thực thi các vấn đề An toàn nhưng chúng ta thường bỏ qua vì lý do vội vàng hoặc những lợi ích tức thời. Ví dụ nhưng ai đó gọt quả táo bằng một con dao to và dài, thay vì đi tìm một con dao nhỏ hơn. Hoặc chồng nhiều chiếu ghế lên để đứng lấy đồ, thay vì đi tìm một cái thang. hay đôi khi với quá tầm với để làm một việc gì đó khi đang đừng trên thang mà không di dời chiếc thang đó đến vị trí thích hợp hơn...Đó là những sự chấp nhận nguy hiểm mà mỗi người thể hiện trong mỗi tình huống khác nhau. Tất cả những hanh vi trên chỉ là việc thử vận may của mỗi người. Mà như chúng ta biết, vận may đâu có đến thường xuyên hoặc đâu có ai luôn may mắn.

Hạn chế về trí tuệ và thể năng

Như chúng ta đã biết, mỗi cỗ máy hay thiết bị nào đó chỉ có thể hoạt động và hoạt động tốt trong khả năng hay tính năng của nó. Đối với cơ thể con người thì tùy vào từng thể trạng (trí tuệ và đặc điểm cơ thể) mà người đó c91o khả năng thể hiện hay làm một công việc nào đó. Việc xem xét tính phù hợp của từng người với công việc được giao là rất cần thiết. Các khả năng về cảm nhận, nghe, nhìn, tình trạng thương tật hay khiếm khuyết phải được xem xét và đánh giá đúng mực để từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp cho công việc hay bố trí việc làm thích hợp với người đó.

Đào tạo

Việc đào tạo nhằm thay đổi tư duy, nhận thức hay giác ngộ, khuyến khích các hành vi ứng xử an toàn là rất cần thiết đối với mỗi cá nhân trước công việc cụ thể đòi hỏi. Trong bài viết khác về Đào tạo chúng tôi xin phân tích rõ hơn về vấn đề này.
 
Top