Môi trường xã Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây

Hotline: 1800 1522

Ứng dụng tiện ích

App yeumoitruong.vn

App Store Google Play

App Gom Rác GRAC

App Store Google Play

Chia sẻ trang

N

ngocanh

Guest
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
5.1. Tình hình ô nhiễm trên địa bàn xã
5.1.1. Môi trường nước
Nước có vai trò rất quan trọng đối với sự sống của con người. Nước được sử dụng trong sản xuất, sinh hoạt, ăn uống…, nói chung nó được sử dụng rất nhiều trong đời sống của con người. Với vai trò quan trọng như vậy nhưng hiện nay vấn đề nước trên địa bàn xã Tô Hiệu lại khá là bức xúc.
Hiện nay môi trường nước của Tô Hiệu đang bị ô nhiễm phần lớn là do chất thải của chăn nuôi, sinh hoạt của người dân. Tuy nhiên, mỗi nguồn nước, mỗi khu vực lại có mức độ ô nhiễm khác nhau.
5.1.1.1. Nước mặt
Hệ thống ao, hồ trên địa bàn xã bị ô nhiễm nhưng với mức độ không cao. Hiện nay nước ao không còn được sử dụng trong sinh hoạt nữa, chỉ có một số hộ bơm nước để sử dụng cho sản xuất. Nước hồ bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất là ở thôn An Duyên, gần với UBND xã Tô Hiệu. Không hiểu vì lý do gì mà có rất nhiều cá chết nổi lên mặt hồ.
Ngay cạnh đó có rất nhiều quán xá, cũng có thể là do nước thải của các quán đó thải xuống hồ làm cho nước hồ bị ô nhiễm. Các chất thải đã làm cho bề mặt hồ có một tầng váng mỏng.

Nước mặt bị ô nhiễm nhiều nhất là nước ở cống rãnh và khu vực hồ chứa nước thải, mương tiêu của xã. Nước ở các khu vực này thường đặc sánh, có màu đen và mùi hôi thối.
5.1.1.2. Nước ngầm
Hiện nay, trên địa bàn xã nước giếng khoan được sử dụng là chủ yếu. 98% số hộ trong xã và 100% số hộ điều tra đều sử dụng nước giếng khoan, các hộ này chủ yếu dùng nước trong sinh hoạt.
Theo cảm nhận của người dân về chất lượng nước giếng khoan thì có 6% nói là tốt, 82% nói là bình thường và 12% cho là không tốt. Tuy nhiên những đánh giá này đều được khẳng định khi nước đã qua hệ thống lọc, đa số các hộ đều nói rằng nước giếng khoan của họ có hàm lượng sắt nhiều. Nhưng đó cũng chỉ là cảm nhận của người dân chứ chưa có ai đo hàm lượng sắt trong nước giếng khoan trên địa bàn xã.
Mới đây, vào khoảng tháng 10 năm 2007, có một số cán bộ môi trường trên huyện về đo hàm lượng Asen trong nước của các hộ dân ở xã, cho số liệu như sau:





Bảng 3. Tỷ lệ % số hộ trong xã có nguồn nước đạt tiêu chuẩn
ĐVT: %
Thôn % số hộ có nguồn nước có hàm lượng Asen đạt tiêu chuẩn cho phép
Nước ngầm Nước qua xử lý
Tử Dương 47,83 60
An Định 53,33 66
An Duyên 18,2 47,1
Đông Duyên 60 80
Toàn xã 40 57,6
(Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo kết quả phân tích hàm lượng Asen trong nước – 10/2007)
Như vậy nước ngầm là nguồn được sử dụng chính cho các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của các hộ. Đã có những ý kiến khác nhau về chất lượng nước ngầm nhưng nhìn chung vẫn nhiều ý kiến cho rằng sự ô nhiễm trên địa bàn chưa ảnh hưởng đến tầng nước ngầm.
5.1.1.3. Nước mưa
Hiện nay nước mưa được ưa chuộng trong sinh hoạt hơn so với nước giếng khoan và được coi là nguồn nước sạch nhất vì hiện nay trên địa bàn xã chưa có nước máy để sử dụng. Nước mưa chủ yếu chỉ dùng trong nấu ăn, nước uống và số lượng người sử dụng nguồn nước này cũng rất ít. Số hộ dùng nước mưa cũng chỉ có 26% (số hộ điều tra). Nước mưa trên địa bàn xã được sử dụng khiêm tốn vì điều kiện đất đai chật hẹp, không phải hộ nào cũng có thể xây bể chứa.
Theo ý kiến của người dân thì chất lượng nước mưa tại địa phương đã bị ảnh hưởng do bụi từ các phương tiện giao thông, các đống cát trên đường. Bởi vì nước mưa bây giờ thường có nhiều cặn đen hơn so với mấy năm về trước. Các bụi khói tích tụ trên mái nhà thường cho nước những trận mưa đầu tiên có màu đen và nhiều cặn.
5.1.1.4. Các yếu tố gây ô nhiễm nước
Nguồn gây ô nhiễm nước trực tiếp hiện nay trên địa bàn xã được xác định là toàn bộ những chất thải của các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người như chất thải chăn nuôi, trồng trọt, chất thải sinh hoạt của gia đình, …
Quá trình phát triển chăn nuôi làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường. Tại sao lại nói như vậy? Trong số các hộ điều tra thì hộ chăn nuôi ít nhất là 5 con/lứa, hộ nuôi nhiều nhất là 200 con/lứa, mà theo tính toán thì nuôi một tấn lợn sẽ thải ra 10 – 22 tấn phân, 20 – 30 m3 nước tiểu và 50 – 100 nghìn m3 nước rửa chuồng trại. Đó là còn chưa tính đến chất thải của các hộ chăn nuôi gà, vịt, bò…
Quy mô càng lớn bao nhiêu thì các chất thải ra môi trường càng nhiều bấy nhiêu.
Ở các hộ này thì chỉ có 3 hộ đã có hầm Biogas, trong đó một hộ đã làm cách đây 3 năm (năm 2005), còn 2 hộ kia mới xây xong hầm vào cuối năm 2007 và đến đầu năm 2008 mới đưa vào sử dụng. Còn đa số các hộ được phỏng vấn đều nói rằng họ thu dọn phân lại, ủ hoai mục rồi thả xuống ao cho cá ăn. Có những hộ thì đem bán cho những hộ chỉ nuôi cá. Còn nước thải và nước rửa chuồng trại được thải trực tiếp ra rãnh chung mà không được xử lý, hoặc thải trực tiếp xuống ao hồ. Những khu vực này thường có mùi hôi thối nồng nặc, ảnh hưởng đến các gia đình xung quanh (vì khu chăn nuôi vẫn gần khu dân cư).
Không chỉ có việc chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường, các gia đình chuyên thu mua gia súc, gia cầm từ các hộ chăn nuôi để bán cũng gây ô nhiễm không kém. Nguyên nhân là do họ mua một lúc với số lượng lớn, chưa vận chuyển đi ngay được, nhưng cũng không có chuồng trại để nhốt chúng. Họ để chúng trong những cái sọt, để la liệt trên sân nhà, sân bể, các chất thải của chúng thì thải trực tiếp ra cống rãnh gần nhà, gây mất vệ sinh.
Các chất thải từ sinh hoạt cũng góp phần gây ra sự ô nhiễm nguồn nước. Có khoảng 1/20 hộ điều tra chưa có nhà vệ sinh mà vẫn sử dụng cầu tiêu, thải trực tiếp xuống ao, gây ô nhiễm nguồn nước mà có khi còn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người (cả gián tiếp, cả trực tiếp).
Thêm vào đó, sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hoá học cũng đáng lo ngại. Khi sử dụng phân bón hoá học, các cây trồng chỉ sử dụng được khoảng 30 – 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, gây hiện tượng phú dưỡng, phì nhiêu hoá sông hồ, gây yếm khí lớp nước ở dưới.
Ngoài ra còn phải kể thêm một nguyên nhân nữa, đó là do ý thức của người dân trong xã. Nhất là khu vực xung quanh trường THCS và THPT Tô Hiệu có rất nhiều rác, toàn là vỏ bánh, kẹo… vứt lung tung, rơi xuống rãnh, mương, gây ô nhiễm khu vực đó, và cả các quán xá dọc đường, xả rác bừa bãi gây ô nhiễm nặng nề cho hồ nước cạnh nó.
5.1.2. Môi trường không khí
Môi trường không khí của Tô Hiệu bây giờ cũng là vấn đề đang được quan tâm. Vì các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở xã chưa phát triển nên ô nhiễm không khí do khói bụi sản xuất là không có. Nếu có cũng chỉ là từ các cơ sở xay sát gạo trên địa bàn xã, không đáng kể.
Nhưng bù lại, hiện nay trên địa bàn xã có nhiều dự án và công trình xây dựng: Dự án xây dựng hầm Biogas với quy mô toàn xã, làm đường, xây dựng nhà cửa, trạm y tế xã nên có rất nhiều bãi cát được đổ ở ven đường, ô tô chở vật liệu xây dựng chạy qua chạy lại liên tục cả ngày sinh ra một lượng bụi rất lớn. Không những thế, vị trí của xã này lại nằm gần cả Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1B – là hai trục đường lớn, rất nhiều phương tiện giao thông, nên khói bụi từ xe cộ là rất nhiều.

Thêm nữa, trên địa bàn xã vẫn còn số lượng khá lớn công nông và các xe tự chế, không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về kỹ thuật nên mỗi lần xe nổ máy tạo ra một lượng khói đen xì, rất khó chịu.
Không những thế, xã Tô Hiệu chủ yếu là phát triển chăn nuôi, quy mô lớn nhỏ đều có. Tuy nhiên, chuồng trại chăn nuôi của các hộ chăn nuôi nhỏ vẫn gần khu dân cư nên mùi hôi từ các chuồng trại chăn nuôi là không thể tránh khỏi.
Ngoài ra, việc vứt rác thải bừa bãi cũng làm cho môi trường không khí bị ô nhiễm. Rác thải vứt bừa ra đường, cạnh cống rãnh, mưa xuống, các vi sinh vật phân huỷ, làm cho không khí có mùi khó chịu.
Ô nhiễm tiếng ồn diễn ra nghiêm trọng nhất là dịp gần Tết. Tiếng máy từ các cơ sở xay xát gạo đồng thời cả tiếng của các phương tiện giao thông (dịp Tết mọi người đổ ra đường nhiều hơn) đã làm cho trên địa bàn náo nhiệt và sôi động hơn.
Trong khi đó, sự cảm nhận của người dân về môi trường không khí là khác nhau. Kết quả điều tra từ các hộ gia đình cho thấy có 78% số hộ nói rằng mùi không khí địa phương họ là khó chịu, 22% số hộ còn lại nói rằng môi trường không khí của họ không gây cảm giác khó chịu vì họ đã quen với môi trường và họ không thấy gì khác.
Như vậy, rõ ràng môi trường không khí của Tô Hiệu hiện nay cũng rất đáng báo động và cần có những biện pháp giảm thiểu mức độ ô nhiễm.
5.1.3. Môi trường đất
5.1.3.1. Hiện trạng ô nhiễm đất
Cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất trên địa bàn xã tuy là không ô nhiễm bằng nhưng cũng là vấn đề đáng quan tâm. Nhất là trên địa bàn thôn Đông Duyên, ở đó có nguyên một bãi đất bị bỏ hoang không trồng trọt được, cỏ mọc um tùm. Diện tích của nó vào khoảng 8 mẫu.
5.1.3.2. Các yếu tố gây ô nhiễm
Nguồn gây ô nhiễm đất chủ yếu trên địa bàn xã là do các loại chất thải trong hoạt động của con người (rắn, lỏng, khí).
Vùng đất ở thôn Đông Duyên bị ô nhiễm khá nặng là do trước đây bao nhiêu nước thải sinh hoạt, rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình ở thôn An Duyên và Đông Duyên đều đổ hết ra đây. Trong rác thải sinh hoạt có chứa các loại vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng, chất thải rắn nông nghiệp có chứa các chất hữu cơ thối rữa và thuốc nông nghiệp còn lưu lại… Các chất thải này được vứt bừa bãi, ngấm nước mưa và rỉ ra nước gây ô nhiễm đất, sông ngòi, ao hồ và nguồn nước ngầm, nguồn nước ô nhiễm này lại được dùng để tưới đồng ruộng, làm thay đổi chất đất và kết cấu đất, ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật trong đất, cản trở sự sinh trưởng của bộ rễ thực vật và ảnh hưởng tới sản lượng. Cho đến nay thì khu đất đó đã bị ô nhiễm nặng, đất cằn, không thể trồng trọt được.

Trên đây là vùng đất bị ô nhiễm nặng nhất trên địa bàn xã Tô Hiệu. Các vùng đất khác vẫn trồng trọt, gieo cấy được bình thường nhưng HTX cũng không nên chủ quan. Bởi vì hiện nay nông dân vẫn giữ thói quen mua phân hoá học về tự trộn theo kinh nghiệm. Khi đó, trong mỗi một loại phân hoá học đều có phần khó tan nhiều hơn phần dễ tan. Cây hấp thụ được thì ít mà nó cứ tích luỹ dần trong đất thì nhiều. Ví dụ như khi ta bón nhiều phân hoá học mà hợp chất là Nitơ, lượng hấp thụ của rễ thực vật tương đối nhỏ, đại bộ phận lưu lại trong đất chuyển hoá, biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông.
Và nếu như cứ mỗi năm đất lại tích luỹ thêm một ít phần khó tan đó của phân hoá học thì nó sẽ làm chai cứng đất, hạn chế hoạt động của vi sinh vật. Vùng đất ô nhiễm nặng nề trên địa bàn xã có thể sẽ tăng lên.
Yêu cầu đặt ra là HTX và cán bộ khuyến nông phải kết hợp với nông dân đưa ra những biện pháp để khắc phục tình trạng trên.
5.2. Sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ cộng đồng và sản xuất
5.2.1. Đối với sức khoẻ cộng đồng
Các chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất vượt quá khả năng đồng hoá của tự nhiên làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và tác động trực tiếp đến sức khoẻ của người dân.
Môi trường nước bị ô nhiễm là môi trường lý tưởng cho các côn trùng, vi khuẩn truyền bệnh cho người và gia súc. Ngoài ra, môi trường nước ô nhiễm còn tạo điều kiện phát sinh một số bệnh về đường tiêu hoá, bệnh đau mắt, bệnh phụ khoa… làm giảm chất lượng cuộc sống.
Ô nhiễm môi trường không khí làm cho con người dễ bị mất nước, mệt mỏi, căng thẳng thần kinh và các bệnh về hô hấp.
Theo thống kê của Trạm y tế xã thì tỷ lệ số lượt người đến khám mắc các loại bệnh như sau: bệnh hô hấp: 30%, phụ khoa: 70%, tiêu hoá: 7 – 10%, bệnh đau mắt hột hầu như không có, còn đau mắt thông thường thì đa số các hộ tự điều trị ở nhà. Trong nhóm bệnh về hô hấp thì viêm phế quản là nhiều (khoảng 80%), các bệnh nguy hiểm như: ung thư phổi, ung thư dạ dày đang có dấu hiệu gia tăng.
Ô nhiễm tiếng ồn làm hại đến sức khoẻ con người trên cả hai phương diện: tâm lý và sinh lý. Về tâm lý, nó gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, mất tập trung, dễ nhầm lẫn, thiếu chính xác. Về sinh lý, nó gây mệt mỏi toàn thân, nhức đầu, choáng váng, ăn không ngon, gầy yếu…
Tiếng ồn còn có thể làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng các bệnh thần kinh, tim mạch…
5.2.2. Đối với hoạt động sản xuất
Trong trồng trọt, do đất ở thôn Đông Duyên bị ô nhiễm nên không trồng trọt được, làm giảm sản lượng thóc lúa của cả xã. Hệ thống mương, rãnh dẫn nước ra đồng ruộng cũng bị ô nhiễm nhiều do nước thải sinh hoạt của người dân. Nguồn nước ô nhiễm đó được dẫn vào đồng ruộng, ngấm dần xuống đất, làm đất bị ô nhiễm, cây trồng sinh trưởng phát triển kém.
Nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ. Đa số người dân đều cho rằng, ô nhiễm không gây ảnh hưởng nhièu lắm tới trồng trọt.
Trong chăn nuôi, trên địa bàn xã chủ yếu là chăn nuôi lợn, gà, vịt. Ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới các hộ chăn nuôi. Chẳng hạn như năm 2007 vừa qua, đàn lợn nhà chú Phương (>100 con) ở thôn Tử Dương đã bị bệnh lợn tai xanh, thiệt hại đến vài chục triệu.
Không khí bị ô nhiễm cộng với nóng bức là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn gây bệnh, hoặc làm cho vật nuôi còi cọc, chậm lớn… Nước ở ao hồ bị ô nhiễm, ảnh hưởng không nhỏ tới việc thả cá…
Tóm lại, ô nhiễm môi trường có tác hại rất lớn tới sức khoẻ của con người và ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của ngành trồng trọt và chăn nuôi trên địa bàn xã. Cái đó đòi hỏi HTX nói riêng và UBND xã Tô Hiệu nói chung phải có những biện pháp thiết thực nhằm giảm thiểu ô nhiễm trên địa bàn xã.
5.3. Các vấn đề môi trường cấp bách trên địa bàn xã
Từ việc phân tích tác hại của ô nhiễm môi trường ở trên cùng với hiện trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn xã Tô Hiệu, chúng ta có thể nhận thấy một số vấn đề môi trường cấp bách trên địa bàn xã trong giai đoạn hiện nay. Đó là:
Một là, việc giải quyết ô nhiễm môi trường do các chất thải rắn từ sinh hoạt của người dân.
Hai là, việc giải quyết các chất thải trong chăn nuôi, tránh hiện tượng thải trực tiếp ra ngoài môi trường mà không qua xử lý.
Ba là, giải quyết vấn đề ô nhiễm nước mặt trên địa bàn xã.
Bốn là, khắc phục nguy cơ đất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp lại do bị ô nhiễm và chai cứng hoá, tầng đất canh tác cứng, không trồng trọt được.
Năm là, hàm lượng Asen trong nước khá cao, cần phải có biện pháp để giảm thiểu lượng Asen trong nước, đảm bảo sức khoẻ cho người dân.
5.4. Thực trạng kiểm soát ô nhiễm và một số đề xuất nhằm cải thiện ô nhiễm môi trường trên địa bàn xã
5.4.1. Thực trạng thu gom rác thải
Toàn xã chưa có tổ vệ sinh môi trường. Việc thu gom rác thải đều là do mỗi thôn tự túc. Mỗi thôn cắt cử một người làm nhiệm vụ đi thu gom rác thải, số rác thải thu gom được người ta mang ra đổ ở các vũng, các mương máng, ao hồ... vì vậy bãi rác tự phát mọc lên nhan nhản. Cứ chỗ này đầy, người ta lại tìm một chỗ khác để đổ. Rác ứ đọng, vương vãi khắp nơi và hơn thế nó lại hoàn toàn lộ thiên, nên tình trạng ô nhiễm từ các bãi rác tự phát này là đáng báo động, người dân luôn phải sống chung với rác thải.
Theo tôi, xã nên thành lập một đội thu gom rác thải gồm khoảng 8 – 10 người, hàng ngày đi thu gom rác thải của các hộ gia đình trong xã, tập hợp rác tại một bãi rác chung của xã (có thể chọn khu đất bị ô nhiễm, không trồng trọt gì được nằm tại thôn Đông Duyên làm nơi tập trung rác thải).
Trong quá trình thu gom rác thải, thực hiện phân loại rác luôn. Thường thì phân ra làm 3 loại:
- Rác vô cơ (rác khô) gồm các loại phế thải thuỷ tinh, sành sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây dựng…
- Rác hữu cơ (rác ướt) gồm các cây cỏ loại
bỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân chăn nuôi,…
- Rác độc hại là những thứ phế thải độc hại cho môi trường và con người như: Pin, bình ắc qui, hoá chất, thuốc trừ sâu,…
Khi phân loại rác ra như thế, chúng ta sẽ tận dụng được những loại rác không độc hại, có thể tái chế hoặc tái sinh. Ví dụ như:
Sách báo, tập vở cũ không dùng nữa được tận dụng làm bao bì, giấy gói; chai lọ, bình, hũ dùng đựng món đồ khác hoặc biến chúng thành vật trang trí trong nhà…
Những phế thải không dùng được cho việc gì nữa nhưng có thể sử dụng để sản xuất ra sản phẩm khác thì cần thu gom bán phế liệu cho các cơ sở sản xuất để tái chế như: kim loại (đồng, chì, kẽm…) được luyện lại và chế tạo ra đồ dùng, vật liệu; chai lọ, ống thuốc thuỷ tinh được nấu lại và thổi thành dạng chai lọ mới; giấy vụn được tái chế thành bao bì, thùng cát tông…
Các thứ rác hữu cơ dễ phân huỷ: thức ăn thừa, rau, củ, quả hư hỏng, xác súc vật, phân chuồng được tái sinh như:
- Tập hợp rác hữu cơ ủ thành phân bón cho cây trồng, hoa màu, lúa… thêm tươi tốt và làm cho đất đai màu mỡ, thêm tơi xốp, canh tác hiệu quả, lâu dài.
- Các loại phân chuồng, thức ăn thừa của người và gia súc cho vào hầm ủ Biogas tạo thành chất đốt phục vụ đun nấu, thắp sáng.
Như vậy sẽ giảm được một lượng lớn chất thải đưa ra môi trường, giữ cho môi trường sạch đẹp hơn.
Việc phân loại rác này có thể là do tổ vệ sinh môi trường xã đi thu gom rồi phân loại; hoặc HTX có thể tuyên truyền đến từng hộ dân, khuyến khích họ phân loại rác từ trước nhằm làm cho công việc của nhân viên thu gom rác được đơn giản hơn và đạt hiệu quả cao hơn.
5.4.2. Dự án xây dựng giếng nước sạch, không nhiễm Asen Tới đây, trong năm 2008 này thì Ngân hàng Thế giới (WB) có dự án xây dựng khoảng 200 giếng nước sạch trên địa bàn huyện Thường Tín, trong đó xây dựng ở xã Tô Hiệu khoảng 50 cái. Nhằm loại bỏ những giếng nước có hàm lượng Asen quá tiêu chuẩn cho phép.
5.4.3. Thực trạng giải quyết vấn đề nước thải trên địa bàn xã
Hiện nay thì xã chưa có một giải pháp nào, chưa có việc làm cụ thể nào để giải quyết vấn đề nước thải trên địa bàn xã.
Theo tìm hiểu, tôi xin đưa ra một mô hình tái sử dụng nước thải làm nước tưới cho cây trồng đã và đang được áp dụng ở thôn Trị Ngoại – xã Tân Hoà - Quốc Oai – Hà Tây. Phương pháp này được thực hiện với hệ thống gồm có một khu bể chứa gồm 4 ngăn, toàn bộ khu vực xử lý rộng 200m2 và một rãnh chung 200m dẫn nước từ các khu vực thôn về hệ thống xử lý. Mỗi ngày có khoảng 20m3 qua hệ thống này. Toàn bộ chi phí xây dựng hệ thống này hết 200trđ. Toàn bộ nước trong thôn theo hệ thống cống rãnh rồi về các bể xử lý sau đó nước được sử dụng để tưới cho cây trồng.
Theo lý thuyết thì phương pháp này là rất tốt vì nó không những xử lý được nước thải, hạn chế ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra nguồn nguyên liệu tốt để làm phân vi sinh, đồng thời đó là nguồn nước tưới giàu dinh dưỡng cho cây trồng.
Từ thực tế giải quyết nước thải trên địa bàn xã Tân Hoà - Quốc Oai ở trên, ta có thể áp dụng mô hình đó vào địa bàn xã Tô Hiệu. Đồng thời, khuyến khích các nhà đầu tư nên đầu tư vào phát triển các cơ sở sản xuất phân vi sinh. Việc đầu tư này không chỉ làm sạch môi trường mà nó còn có nhiều ý nghĩa về kinh tế - xã hội. Đó là tạo việc làm thêm cho người lao động, tham gia vào các cơ sở sản xuất. Hơn nữa, Nông nghiệp hiện nay đang hướng tới nền Nông nghiệp sạch nên việc bón các loại phân hữu cơ cho cây trồng sẽ giảm xuống mà thay vào đó là các loại phân vi sinh “làm bạn” với môi trường. Ngoài ra, khi chất thải có giá trị sử dụng, mọi người sẽ quan tâm đến nó hơn và tự người dân sẽ quản lý chất thải của mình, giảm thiểu lượng chất thải di chuyển tự do trong môi trường. Từ đó, sức ép do quá nhiều chất thải của hệ thống xử lý nước thải ở trên sẽ được khắc phục. Và hệ thống sẽ hoạt động hiệu quả hơn.
5.4.4. Kiểm soát việc phun thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn xã
HTX phát động xã viên phun thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật 2 lần/vụ, nhưng thực tế có hộ chẳng phun lần nào, vì ruộng nhà họ không có sâu bệnh. Các xã viên đều ý thức được tác hại của việc phun thuốc trừ sâu bừa bãi nên chỉ khi nào phát hiện có sâu bệnh ở ruộng nhà mình mới tiến hành phun.
Còn về bón phân hoá học thì hiện nay đa số các hộ đều mua N, P, K về trộn theo kinh nghiệm rồi bón. Như vậy, lượng chất khó tan trong phân hoá học là rất lớn (khoảng 60 – 70% là ít tan), nó sẽ tích tụ lại trong đất làm cho đất chai cứng, tầng đất canh tác mỏng dần. Nông dân trong xã đã thả bèo tấm xuống ruộng lúa.
Việc làm này có tác dụng rất tốt đối với ruộng lúa: Tránh được thoát hơi nước, quang hợp tạo ôxi, tạo môi trường thoáng khí hơn trong ruộng lúa, và tác dụng lớn nhất là khi kết thúc mùa vụ, nó trở thành một nguồn phân vi sinh có tác dụng cải tạo, bù đắp dinh dưỡng cho đất, làm cho đất tơi xốp.

Ngoài biện pháp như trên, HTX cũng nên khuyến cáo với nông dân nên sử dụng phân bón tổng hợp N-P-K, hàm lượng chất ít tan của nó ít hơn nhiều so với bón N, P, K tự trộn. Hơn nữa lại còn tiết kiệm được chi phí.
5.4.5. Hầm Biogas
Biogas là một giải pháp cũng khá quan trọng trong việc làm giảm thiểu các chất làm ô nhiễm môi trường. Sử dụng hầm Biogas vừa tạo ra chất đốt cho gia đình, lại giữ vệ sinh. Đồng thời, nước sau xử lý ở bể Biogas có thể giảm được 40 – 50% hàm lượng chất hữu cơ trong nước thải và như vậy đã làm giảm được những ảnh hưởng của nó thải đến môi trường chung.
Hiện nay trên địa bàn xã việc phát triển hầm Biogas cũng còn hạn chế, trong 20 hộ điều tra, chỉ có 3 hộ đã có hầm Biogas. Một số hộ chăn nuôi với quy mô lớn nhưng vẫn chưa xây dựng hầm Biogas, nước thải từ chăn nuôi vẫn được thải trực tiếp xuống ao, còn phân thì được đóng vào bao tải để bán.
Chi phí cho một hầm Biogas là không lớn, chỉ khoảng 3 – 4 trđ/hầm, nhưng tại sao các hộ như trên không xây cho gia đình mình một cái để đảm bảo vệ sinh môi trường và sức khoẻ cho gia đình? Khi được hỏi câu hỏi này thì một số hộ trả lời rằng: việc xây dựng này phải kèm theo xây dựng các công trình phụ của gia đình, quy hoạch lại chuồng trại chăn nuôi. Để làm lại toàn bộ như vậy thì chi phí vào khoảng trên 10trđ và không phải hộ nào cũng làm lại ngay được.
Một nguyên nhân nữa để cho các hộ chăn nuôi chưa có hầm Biogas chưa muốn xây là vì trên địa bàn xã đang có một dự án của WB xây dựng một loạt hầm Biogas với quy mô lớn, thu gom chất thải của cả thôn và cung cấp chất đốt cho cả thôn. Thế nên tâm lý chờ đợi là đương nhiên.
Nhưng dự án này đã đưa ra được một năm nhưng vẫn chưa thực hiện được. Họ mới chỉ xây dựng xong 6 cái bể rồi dừng lại, để nước đọng, dự án chững lại ở đó.
Cũng có hộ được phỏng vấn nói rằng: “Cách đây một tháng có mấy người đến xem chuồng trại để đào hầm Biogas ở đó nhưng hẹn lên hẹn xuống mấy lần rồi không thấy đào bới gì cả”. Vì thế người dân chờ đợi mãi cũng đâm chán không muốn làm nữa.
5.4.6. Tuyên truyền giáo dục
Hiện nay, công tác tuyên truyền giáo dục người dân về vấn đề môi trường còn hạn chế. Cán bộ chuyên trách quản lý môi trường chưa có mà cán bộ làm công tác môi trường thường kiêm nhiều việc. Ở cấp xóm thường là các ông trưởng xóm. Việc tuyên truyền các chủ trương chính sách về môi trường thường chỉ có một số thành viên đến tham dự sau đó về cơ sở mình truyền đạt lại. Tuy nhiên, những cuộc họp xóm nói về vấn đề môi trường thường không có đầy đủ số hộ tham gia.
Những thông báo về một số văn bản về môi trường qua hệ thống loa phóng thanh xã không được người dân quan tâm nhiều vì một số không để ý và có nhiều người lại không quan tâm lắng nghe do nghĩ rằng các văn bản này quá xa, không giải quyết được thực tế.
Chính quyền địa phương hàng năm đều có quy chế vệ sinh môi trường với những quy định về trách nhiệm rất rõ ràng đối với từng đối tượng. Mặc dù sự nhận thức về môi trường chưa thật sự sâu sắc nhưng trong cộng đồng mọi người vẫn thường tổ chức các buổi lao động chung, khơi thông cống rãnh khu vực quanh nhà mình. Các hoạt động này thường được tổ chức rất phổ biến vào những dịp lễ tết, những ngày kỷ niệm lớn.
Trong thực tế hiện nay, khi các biện pháp kỹ thuật cho khắc phục ô nhiễm còn hạn chế thì việc quản lý môi trường tại cộng đồng là quan trọng và việc giúp người dân nhận thức được trách nhiệm của mình với môi trường là một nhiệm vụ hàng đầu. Bởi hoạt động của người dân ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường quanh họ và cũng chính người dân sẽ chịu những ảnh hưởng do hậu quả của ô nhiễm môi trường. Mặt khác, việc thực hiện khắc phục ô nhiễm môi trường sẽ chỉ đạt hiệu quả nếu nó được sự hưởng ứng tích cực của người dân.
 

ngoaidao

Cây công nghiệp
Bài viết
117
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Mình không phải là dân môi trường nhưng mình cũng thấy nó rất cụ thể, rõ ràng. Nhưng nếu bạn có thể định lượng được mức ô nhiễm thì càn tốt. Và vấn đề xã Tô Hiệu như bạn nói thì thật ra rất nguy hiểm. vì phần lớn sự ô nhiễm là do ý thức của người dân. Mà ý thức thì rất khó thay đổi. Còn việc sử dụng nước mưa mình nghĩ không phải là hướng tốt vì nước mưa theo mình biết cũng là một loại nước thải. Có khả năng nhiễm nhiều thứ từ hoạt động của người dân. Và còn nữa, mái nhà không chỉ vào đầu mùa mưa mới có bụi mà mình nghĩ với môi trường như vậy thì lúc nào mái nhà cũng có bụi, rất nguy hiểm. Theo mình tốt nhất ở xã Tô Hiệu bây giờ nêu xử dụng nước đóng chai để uống. và sử dụng nước ngầm qua xử lý sơ bộ (theo dân gian cũng được) để phục vụ sinh hoạt. Còn đề tài của bạn quá rõ ràng rồi, chỉ thiếu số liệu định mức ô nhiểm thui.
 

Kiem_khach_da_tinh

Cây công nghiệp
Bài viết
125
N

ngocanh

Guest
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Mình không phải là dân môi trường nhưng mình cũng thấy nó rất cụ thể, rõ ràng. Nhưng nếu bạn có thể định lượng được mức ô nhiễm thì càn tốt. Và vấn đề xã Tô Hiệu như bạn nói thì thật ra rất nguy hiểm. vì phần lớn sự ô nhiễm là do ý thức của người dân. Mà ý thức thì rất khó thay đổi. Còn việc sử dụng nước mưa mình nghĩ không phải là hướng tốt vì nước mưa theo mình biết cũng là một loại nước thải. Có khả năng nhiễm nhiều thứ từ hoạt động của người dân. Và còn nữa, mái nhà không chỉ vào đầu mùa mưa mới có bụi mà mình nghĩ với môi trường như vậy thì lúc nào mái nhà cũng có bụi, rất nguy hiểm. Theo mình tốt nhất ở xã Tô Hiệu bây giờ nêu xử dụng nước đóng chai để uống. và sử dụng nước ngầm qua xử lý sơ bộ (theo dân gian cũng được) để phục vụ sinh hoạt. Còn đề tài của bạn quá rõ ràng rồi, chỉ thiếu số liệu định mức ô nhiểm thui.
Cám ơn bạn đã góp ý nhớ. Việc định lượng mức ô nhiễm mình cũng đã nghĩ đến. Mình đã tìm rất nhiều tài liệu về nó. Tại đề tài tốt nghiệp of mình cũng làm về môi trường mà. Nhưng quả thật là rất khó, vì muốn làm được cái này fải có sự giúp đỡ của bên kỹ thuật rất nhiều. Hơn nữa chi phí cho việc định lượng này rất tốn kém. Với trình độ và khả năng của mình thì chưa thể làm được như vậy. Các thầy cô giáo hướng dẫn mình cũng nói vậy. Thế nên mình mới chỉ dừng lại ở định tính, mình có cả hình ảnh minh họa nữa, nhưng k bít post lên thế nào.:k4664436:
 

Kiem_khach_da_tinh

Cây công nghiệp
Bài viết
125
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Mình không phải là dân môi trường nhưng mình cũng thấy nó rất cụ thể, rõ ràng. Nhưng nếu bạn có thể định lượng được mức ô nhiễm thì càn tốt. Và vấn đề xã Tô Hiệu như bạn nói thì thật ra rất nguy hiểm. vì phần lớn sự ô nhiễm là do ý thức của người dân. Mà ý thức thì rất khó thay đổi. Còn việc sử dụng nước mưa mình nghĩ không phải là hướng tốt vì nước mưa theo mình biết cũng là một loại nước thải. Có khả năng nhiễm nhiều thứ từ hoạt động của người dân. Và còn nữa, mái nhà không chỉ vào đầu mùa mưa mới có bụi mà mình nghĩ với môi trường như vậy thì lúc nào mái nhà cũng có bụi, rất nguy hiểm. Theo mình tốt nhất ở xã Tô Hiệu bây giờ nêu xử dụng nước đóng chai để uống. và sử dụng nước ngầm qua xử lý sơ bộ (theo dân gian cũng được) để phục vụ sinh hoạt. Còn đề tài của bạn quá rõ ràng rồi, chỉ thiếu số liệu định mức ô nhiểm thui.
Cách phân tích và viết đúng là có nhiều điểm mà tớ thấy rằng ....ko giống dân mt, cách tiếp cận thì có vẻ chung chung và tớ cá là cho vào đó tên một địa phương khác thì ...có lẽ cũng thế nhỉ? đùa thoai.
Tớ bảo đồng chí check lại thông tin với havt.mt48 là bởi vì dù đồng chí có thực tập cả tháng cũng ko thể hiểu rõ hết bằng một người ở đó đến cả chục năm, hơn nữa lại là dân mt gốc :D. Thế nhé.
 

ngoaidao

Cây công nghiệp
Bài viết
117
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Cám ơn bạn đã góp ý nhớ. Việc định lượng mức ô nhiễm mình cũng đã nghĩ đến. Mình đã tìm rất nhiều tài liệu về nó. Tại đề tài tốt nghiệp of mình cũng làm về môi trường mà. Nhưng quả thật là rất khó, vì muốn làm được cái này fải có sự giúp đỡ của bên kỹ thuật rất nhiều. Hơn nữa chi phí cho việc định lượng này rất tốn kém. Với trình độ và khả năng của mình thì chưa thể làm được như vậy. Các thầy cô giáo hướng dẫn mình cũng nói vậy. Thế nên mình mới chỉ dừng lại ở định tính, mình có cả hình ảnh minh họa nữa, nhưng k bít post lên thế nào.:k4664436:
Ừ mình không thể định lượng được thì đành vậy thui! Tại mình thiết nghĩ khi nói một chổ nào đó bị ô nhiễm hay gì gì đó! thì cần có những thông số cụ thể. nhưng liệt kê nguyên nhân như cũng thấy được sự ô nhiẽm rùi! chỉ là chưa thấy nó đang nằm ở mức độ nào thui.:clapping:
 
  • Thread starter ngocanh
  • Ngày gửi
scroll-topTop