Ứng dụng Gom Rác GRAC

Nghị định thư Kyoto (Kyoto protocol) và Cơ chế phát triển sạch (CDM-Clean development mechanism)

  • Thread starter cuc-vang
  • Ngày gửi
C

cuc-vang

Guest
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Nghị định thư Kyoto - Bước khởi đầu trong một hành trình dài


Nghị định thư Kyoto của Công ước khí hậu là văn bản pháp lý để thực hiện Công ước khí hậu, đã có hiệu lực để thi hành kể từ ngày 16/2/2005. Nội dung quan trọng của Nghị định thư Kyoto là đưa ra chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chế giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững thông qua thực hiện "Cơ chế phát triển sạch"(CDM: Clean Development Mechanism). Dự án CDM được đầu tư vào các lãnh vực như: năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý chất thải. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto nên được hưởng những quyền lợi dành cho các nước phát triển trong việc tiếp nhận hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ mới từ các nước phát triển thông qua các dự án CDM.

Với s phê chun nghđnh thư ca nước Nga vào tháng 10 năm 2004, hip ước được ký kết vào 2004 cui cùng đã bt đu có hiu lc vào tháng 1 năm 2005, do hip ước có hiu lc 90 ngày sau khi phê chun.
Nghđnh thư Kyoto là mt tho thun ràng buc quc tế có tính pháp lý đ gim thiu khí nhà kính phát thi gây thay đi khí hu.

Bn tha thun nêu cam kết ca các nước công nghip hóa gim phát thi 6 loi khí nhà kính 5% vào nm 2012. Hơn thế na là đt ra mt mc tiêu c th cho mi loi khí, các mc tiêu tng thđi vi tt c 6 loi khí sđược qui đi "tương đương vi CO2" đ ch còn mt s liu.

S cam kết ghi rõ rng tt c các bên ký kết vào Nghđnh thư phi tuân th mt s bước bao gm:
  • thi
  • ết kế và trin khai các chương trình gim thiu và thích nghi vi s thay đi khí hu.
    [*]chu
    n b mt s liu thng kê quc gia v loi b các phát thi bng cách gim ccbon.

    [*]khuy
    ến khích chuyn giao công ngh thân thin vi khí hu.

    [*]thúc
    đy s hp tác trong nghiên cu và quan sát thay đi khí hu, các tác đng và các chiến lược đi phó.
Các nước đang phát trin vn chưa có ràng buc pháp lý đi vi nhng mc tiêu gim phát thi, vì các quc gia này ch chu trách nhim mt phn nh ca phát thi khí nhà kính trong quá kh.

(cont)




Link tham khảo: http://www.donre.hochiminhcity.gov....0003530&idParent=00000000000000003039&idCap=1
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
C

cuc-vang

Guest
#2
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
(cont)

Các mục tiêu giảm phát thải:



Các yêu cầu đểđạt được mục tiêu của nhóm 5%:

c
ắt giảm 8% phát thải của các nước Thụy sĩ, phần lớn các quốc gia Trung và Ðông Âu, và EU (sẽđạt mục tiêu của nó bằng cách phân bổ các mức độ cắt giảm khác nhau trong số các nước thành viên);
Giảm 7% phát thải của Mỹ

Giảm 6% phát thải của Canada, Hungary, Nhật và Ba lan.

Nga, New Zealand và Ukraina ổn định mức phát thải của mình

Na Uy có thể tăng phát thải thêm 1%

Úc có thể tăng mức phát thải thêm 8%

Ai-xơ-len có thể tăng phát thải lên 10%.
Một điều khoản trong hiệp ước cho phép một quốc gia đáp ứng được hạn ngạch của mình bằng cách giảm phát thải từ các nhà máy điện và xe ô tô. Các nước phát triển có thể cũng đạt được lời cam kết của mình bằng khấu trừ lượng khí nhà kính hấp thu bởi bồn hấp thụ cạcbon (carbon sink) (rừng, biển) từ tổng lượng phát thải của họ trong giai đoạn cam kết. Ðiều khoản này bao gồm các phát thải hấp thu hay thải ra bởi một số những thay đổi trong vấn đề sử dụng đất và hoạt động lâm nghiệp, như phá rừng.

Link tham khảo: http://www.donre.hochiminhcity.gov.v...003039&idCap=1
 
C

cuc-vang

Guest
#3
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
TẠI SAO NGHỊ ÐỊNH THƯ KYOTO CHỈ MỚI LÀ BƯỚC KHỞI ÐẦU ?


Mỗi năm chúng ta phóng thích gần 7 tỉ tấn cạcbon vào khí quyển, nơi mà nó sẽ lưu lại khoảng 1 thế kỷ, làm tăng hàm lượng khí CO2 trong khí quyển và làm bức xạ mặt nhiệt mặt trời bị giữ lại nhiều hơn.

Trước thời đại công nghiệp, lượng CO2 phát thải ổn định ở mức 280 phần triệu (part per million-ppm). Khi Nghị định thư Kyoto được ký kết vào năm 1997, mức phát thải CO2 đã đạt mức 368ppm. Trong năm 2004, mức phát thải này đã lên 379ppm.

Phần lớn những dự báo về việc tăng nhiệt độ của trái đất, lũ lụt, hạn hán, bão và tăng mực nước biển được dựa trên nồng độ 550ppm. Theo những xu thế hiện nay, nồng độ này chắc chắn sẽ đạt đến vào giữa thế kỷ này. Ngay cả khi nếu các nồng độ tăng lên không cao hơn mức này đi chăng nữa, thì đây cũng sẽ là điểm khởi đầu. Nhịp độ chậm trể trong các hệ thống tự nhiên như sự lưu thông của các tảng băng vùng cực và các dòng đại dương có nghĩa rằng những thay đổi vẫn sẽ tiếp tục hằng thiên niên kỷ sau khi nồng độ CO2 ổn định.

Về căn bản, chỉ có biện pháp cắt giảm quyết liệt phát thải CO2 toàn cầu xuống 2/3 hoặc hơn nữa, mới có thể ngăn chặn nồng độ khí tăng cao hơn cho đến nay và phòng ngừa sự thay đổi khí hậu khốc liệt hơn. Thế giới càng cắt giảm nhanh sự phát thải này chừng nào, cuối cùng sẽ dẫn đến là sự ổn định các nồng độ khí ở mức thấp.

Nghị định thư Kyoto, tuy vậy, chỉ đòi hỏi những cắt giảm vừa phải ở mức phát thải ít hơn 5%. Mỹ không ủng hộ nghị định thư Kyoto, các nước phát triển không phải thực hiện bất cứ việc cắt giảm nào, và điều này có hiệu lực đến năm 2012. Có lẽ điều chủ yếu nhất là Nghị định thư không cung cấp một kế hoạch chi tiết để chúng ta biết kết thúc ở đâu và làm cách nào mà chúng ta đạt được kế hoạch đó.

Tuy nhiên, việc thúc đẩy thực hiện Nghị định thư Kyoto là một công việc có ý nghĩa vì nó mở ra cho những nhà đàm phán để bắt đầu thảo luận việc cần làm kế tiếp.

Các khoa học gia về khí hậu nói rằng các chính trị gia phải tiếp tục từ những thương thảo từng phần của NÐT Kyoto theo từng mục tiêu quốc gia riêng biệt đến kế hoạch toàn cầu nhằm giảm nồng độ của các khí nhà kính chủ yếu, đặc biệt là khí CO2. Phần lớn nhà khoa học mong muốn thấy nồng độ khí CO2 được duy trì thấp hơn 450ppm, nhưng nhiều người lại chấp nhận nồng độ 550 ppm v ì có vẻ thực tế hơn.

Ðiều này vẫn dẫn đến việc thay đổi khí hậu đáng kể, với nhiệt độ trong tương lai tăng 2oC đến 5oC và mực nước biển tăng 0,3m đến 0,8 m vào năm 2100, và tăng lên 7 đến 13m trong thiên niên kỷ kế tiếp. Nhưng một mức trần 550ppm sẽ phòng ngừa nhiều hơn những thay đổi nghiêm trọng. Nó cũng sẽ hướng đến những cam kết quốc tế được đưa ra trong Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro (Achentina) vào năm 1992 để ngăn ngừa sự thay đổi khí hậu "nguy hiểm".

Một lựa chọn được thảo luận là đề ra một mức trần về nồng độ CO2 trong khí quyển để giúp thiết lập một ngưỡng (benchmark) hợp lý ổn định và khoa học để đo sự thành công của các thương thảo trong tương lai.

Tán thành về mức trần khí CO2 có thể là phần việc dể dàng nhất. Bất kỳ mức trần nào đều đặt ra một giới hạn tuyệt đối một cách hiệu quả về những phát thải toàn cầu trong thế kỷ sắp tới, và vấn đề tế nhị sẽ là quyết định ai được quyền làm gì để chọn những mức phát thải đó.

Các nước đang phát triển nài nỉ họ có thể chỉ chấp nhận hạn ngạch phát thải (emission quota) dựa trên dân số và đề nghị mở rộng các kế hoạch Kyoto về việc mua bán phát thải và dàn xếp sự trao đổi. Các nước phát triển như Mỹ- mà mức phát thải CO2 theo đầu người cao gấp 8 lần so với Trung quốc, và cao gấp 18 lần so với Ấn độ- đã bác bỏ các đề nghị, nhưng các nước này đang gặp khó khăn trong việc tìm một phương án hợp lý.

Giả sử rằng các thoả thuận có thể đạt tới về hạn ngạch phát thải, bước kế tiếp sẽ là đạt được hạn ngạch này. Ổn định ở mức 550ppm sẽ có nghĩa là bảo đảm mức phát thải cao nhất toàn cầu không sớm hơn năm 2025, theo Ủy Ban Liên Chính phủ về Thay đổi Khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change-IPCC). Những biện pháp đơn giản như cải thiện hiệu quả năng lượng, nhưng chỉ riêng biện pháp này thì sẽ không đủ. Ðể bảo đảm rằng chúng ta không đưa thêm cạcbon vào bầu khí quyển nhiều hơn lượng chúng ta cắt giảm sẽ đòi hỏi có những thay đổi về cấu trúc trong ngành công nghiệp năng lượng toàn cầu.

Sẽ tốn bao nhiêu chi phí cho công việc này? Một số nhà kinh tế nói rằng những thay đổi như thế sẽ rất tốn kém, trong khi các công ty đang hướng đến cạnh tranh trong các giải pháp công nghệ chỉ chú ý đến lợi nhuận. Những thay đổi lớn sẽ cần thiết bất kể điều gì xảy ra khi việc cung cấp dầu và khí tự nhiên bị suy giảm, mặc dù than vẩn còn với trữ lượng rất lớn.

Trong trường hợp đó, vấn đề là một cách chính xác thì những thay đổi nào cần được thực hiện. Sự đóng góp tương đối của các nguồn năng lượng mới như năng lượng gió và mặt trời, đưa năng lượng của hydro và năng lượng hạt nhân có một vai trò trong nền kinh tế vẫn còn bị ngăn cản quyết liệt.

Tại nước Mỹ vẫn còn nhiều ý kiến khăng khăng rằng công tác nghiên cứu các công nghệ tốt hơn là quan trọng hơn những biện pháp vội vã, đắt tiền để cắt giảm phát thải, và điều này có thể đúng. Nhưng thời gian đang sắp hết. Cần 150 năm để nồng độ CO2 tăng từ 250ppm lến 330ppm; và đã chỉ cần có 30 năm để nồng độ này từ 330ppm tăng lên 380ppm.


tham khảo: http://www.donre.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.jsp?id=00000000000000003530&idParent=00000000000000003039&idCap=1
 
Top