Ứng dụng Gom Rác GRAC

Những sinh vật trong truyền thuyết

Sea

Member
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Những loài sinh vật trong truyền thuyết xa xưa thường gợi lên cho chúng ta biết bao tò mò. Người ta không ngừng nói về chúng sau những cuộc du hành dài ngày gian nan và nguy hiểm để tìm đến những vùng đất xa lạ chưa từng biết đến. Trở về cùng với họ là những câu chuyện ly kỳ về những quanh cảnh kỳ lạ mà họ có cơ hội chứng kiến, và cả về những con vật vừa lạ lùng vừa kinh khiếp. Cứ thế từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác với màu sắc kỳ bí về những sinh vật bí ẩn ấy dường như càng tăng lên nhiều lần. Có những câu hỏi như thách đố vẫn chưa có lời đáp. Chúng từ đâu đến với hình dạng kỳ quái như thế và liệu chúng còn tồn tại hay không cho đến thời điểm này? Tại sao chúng lại có những khả năng thật đặc biệt mà hiếm sinh vật nào trong tự nhiên có được?



Hình ảnh về những con quái vật dưới đáy biển sâu luôn ám ảnh trong suy nghĩ của những thuỷ thủ đi biển. Đó là sinh vật ăn thịt người dài tới 60 – 70 m, mình tròn đường kính đến vài mét, mắt toé ra ánh sáng xanh. Rồi cả những mỹ nhân ngư có mái tóc dài óng ả, mình có vảy đuôi thường lảng vảng trên mặt biển để dụ dỗ các thuỷ thủ. Câu chuyện về những hiệp sỹ giết rồng dũng cảm lan truyền đi khắp châu Âu ngày xưa vẫn được như một biểu tượng ca ngợi sức mạnh và ý chí của con người. Bí mật về nguồn gốc của sinh vật kỳ lạ trong hồ LockNess khơi mào cho những cuộc tìm kiếm từ hàng trăm nay nhưng vẫn chưa đưa đến câu trả lời xác đáng nào. Và câu chuyện về những quái vật độc giác như unicorn hay kỳ lân với chiếc sừng đầy ma thuật có thể ngừa được bất cứ chất độc nào đã xuất hiện trong nền văn hoá của nhiều dân tộc từ hàng ngàn năm trước, đến nỗi hình ảnh của sinh vật một sừng vẫn là quân huy của quân đội Hoàng gia Anh ngày nay...



Những sinh vật ấy có thật tồn tại trong tự nhiên hay không? Phải chăng đó là sự phóng đại nhằm giải thích những điều kiện tự nhiên bất lợi như câu chuyện thuỷ quái nổi lên đánh đắm con thuyền của những người đi biển, cũng có thể đó đơn giản chỉ là sản phẩm do trí tưởng tượng phong phú của con người thêu dệt nên. Những câu chuyện về những sinh vật bí ẩn này luôn được bao bọc bởi một lớp màn huyền bí, không ngừng thôi thúc con người tìm hiểu và khám phá.
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:

Sea

Member
#2
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Khúc hát của những nàng tiên cá

Trong truyền thuyết về những vị thần của người Hi Lạp cổ đại, Odyssey trên chuyến hành trình quay trở lại quê hương sau trận chiến vĩ đại ở thành Troy đã đi ngang qua một vùng biển nguy hiểm. Và tại đó người anh hùng vĩ đại của chúng ta đã suýt nữa bị quyến rũ bởi những nàng tiên cá có nhan sắc tuyệt trần và giọng hát say đắm đủ để làm mê hoặc lòng người và khiến cho biết bao thuỷ thủ phải bỏ mạng lại nơi này... Đó là thần thoại nhưng thật sự từ xa xưa, các thuỷ thủ vẫn thường hay kể chuyện cho nhau nghe về những vùng biển xa xôi nơi có những nàng tiên cá – những cô gái đẹp và mang chiếc đuôi cá. Nhưng với người đi biển, nàng tiên cá là điềm xấu và như người ta nói, nó dụ dỗ cho tàu đâm vào đá.



Và đây là một trong những câu chuyện truyền miệng đó. Họ thường lang thang trên biển đã rất nhiều ngày, họ rất mệt mỏi, gần như kiệt sức và đói lả, mắt hoa lên giữa muôn trùng sóng nước. Bất chợt, một vật gì đó tiến đến gần sát thuyền của họ, khẽ quẫy chiếc đuôi cá và nhẹ nhàng bơi ra xa như mời gọi. Một trong số những thuỷ thủ đã tin rằng thấp thoáng ẩn dưới làn nước sáng lấp loáng kia là khuôn mặt của một cô gái rất xinh đẹp đang mỉm cười và anh ta đã không ngần ngại đuổi theo bất chấp sự ngăn cản của mọi người trên thuyền. Với khả năng bơi lội của mình, tuy rất mệt nhưng anh vẫn nhanh chóng bắt kịp được cô gái vì dường như cô ấy bơi khá chậm. Thế nhưng kỳ lạ thay, khi nhìn gần thì đó dường như không phải là một khuôn mặt người và chàng thuỷ thủ chỉ biết hét lên trong sự kinh ngạc và hoảng sợ tột độ...

Vậy thì có tồn tại hay không những mỹ nhân của đại dương?
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:

Sea

Member
#3
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần một: Sự thật về những mỹ nhân ngư.

Có lẽ những truyền thuyết ấy đã dựa trên hình ảnh về loài hải ngưu hoặc hải trư. Với chiếc mõm nung núc thịt và thân hình mập mạp, dễ hiểu vì sao hải ngưu (bò biển) và hải trư (lợn biển) thường được người ta gọi chung là bò biển và đôi lúc bị nhận lầm là những nàng tiên cá của đại dương tuy thật sự chúng là những nhóm động vật khác nhau và phân bố trên những khu vực riêng biệt ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Chúng là loài động vật sống hoàn toàn ở dưới nước. Có thể dễ dàng phân biệt được chúng nhờ vào hình dáng bên ngoài của chiếc đuôi. Đuôi của hải ngưu có dạng hình chữ V có chóp rãnh ở giữa giống như cá voi và trông rất giống một cái đuôi cá, trong khi đuôi của hải trư thì dẹt và tròn có dạng như mái chèo.

Ba loài hải trư và một loài hải ngưu đều sống ở những vùng nước ấm, vùng nước nông miền nhiệt đới. Đây chính là bốn loài duy nhất còn tồn tại của bộ Sirenia – bộ của những loài động vật có vú ăn thực vật dưới biển (herbivore). Chúng chuyển động rất chậm chạp, bản tính nhút nhát và hiền lành, có tính sống bày đàn khá cao. Thức ăn chủ yếu của chúng là cỏ biển mọc dưới đáy nước, bèo tây và đôi khi chúng ăn cả rong tảo biển. Chúng thường dũi sâu xuống dưới cát để ăn được cả phần rễ có giàu chất dinh dưỡng. Tuy nhiên nếu số lượng tảo biển bị giảm sút thì hải ngưu vẫn có thể ăn những sinh vật không xương sống.

Đối với hải ngưu, nó thường được biết đến dưới có tên Dugong, cái tên này có nguồn gốc từ tiếng Malay: duyung có nghĩa là người cá (mermaid hay the lady of sea).

Hải ngưu:



Hải trư:



Vào mùa sinh sản chúng thường tìm đến khu vực nước ấm gần xích đạo để ghép đôi. Mới thoạt nhìn, bộ xương hải ngưu rất giống bộ xương cá voi, không có các chi sau, xương hông nhỏ đi nhiều, chi trước đã thay đổi để thích nghi với việc bơi lội. Khác biệt chú yếu với xương cá voi, mềm và xốp, sọ và xương của hải ngưu đặc chắc như sừng.

Hải trư sống ở sông hoặc cửa sông nước lợ, hiếm khi mạo hiểm ra khơi xa. Vì vậy hải ngưu là động vật có vú ở biển ăn thực vật duy nhất. Và có lẽ những thuỷ thủ ngày xưa đã nhầm chúng với những nàng tiên cá xinh đẹp. Trong số ba loài hải trư thì một loài chẳng bao giờ rời sông Amazon (hải trư Brazil), hai loài kia sống ở sông, cửa sông (hải trư Tây Ấn và hải trư châu Phi), còn hải ngưu là động vật biển hoàn toàn. Chúng phân bố chủ yếu ở ven Ấn Độ Dương, dọc theo bờ đông của lục địa Phi châu, và đặc biệt có nhiều ở vùng biển Đông Nam Á trong đó có Việt Nam (loài bò biển có thể tìm thấy ở Vườn Quốc Gia Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Vườn Quốc gia Côn Đảo, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong dân gian gọi là cá nược).

Giống như cá voi, hải ngưu và hải trư đã mất đi chân sau và trọn đời sống dưới nước. Chúng sinh sản chậm chạp, ba năm mới đẻ một lần và thường là chỉ sinh một con non. Những con mới sinh được nuôi dưỡng bằng ở mẹ và chúng luôn ở bên cạnh mẹ cho đến năm 2 tuổi. Cho nên chúng rất dễ bị tuyệt chủng, chúng được xếp vào nhóm có nguy cơ bị tổn thương (vulnerable). Bất cứ ở đâu chúng cũng bị người ta săn bắt vì thịt chúng thơm ngon. Nhiều hải trư và hải ngưu còn bị chết do bị tàu thuyền đụng phải vì chúng thường di chuyển rất chậm nên không thể tránh được. Ngoài ra hải ngưu còn bị đe doạ bởi bão, các thiên tai, sinh vật sống ký sinh, và những kẻ thù tự nhiên của chúng như cá mập, cá voi sát thủ và đôi khi là cá sấu.

Hiện nay, ở các khu bảo tồn sinh vật biển ven bờ vẫn nuôi dưỡng và chữa trị cho những con hải ngưu bị thương do va phải tàu thuyền hay vướng vào những lưới cá vì tính bất cẩn của ngư dân, hay những con non bị mất mẹ không có khả năng tự kiếm lấy thức ăn. Kinh phí nuôi dưỡng chúng thường đến từ nguồn thu nhập trong các hoạt động biểu diễn của cá voi, cá heo, hải cẩu... trong các công viên hải dương (aquarium). Tuy nhiên hiện nay trên thế giới vẫn chưa ghi nhận được có trường hợp nào thành công khi cho loài hải ngưu tái hoà nhập lại với môi trường sinh sống tự nhiên của chúng ngoài đại dương. Số lượng hải ngưu tại các khu bảo tồn trên thế giới hiện nay chỉ có 5 con ở Mỹ, Nhật, Australia... Và chắn chắc là những con hải ngưu này sẽ phải sống hết quãng đời còn lại ở khu bảo tồn.

Và đó chính là câu chuyện về khúc hát của những mỹ nhân ngư...
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:

Sea

Member
#4
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần hai: hải trư (Manatee).

Hải trư nom giống như con voi nhỏ là động vật có vú chứ không phải là loài cá. Hải trư hay còn gọi là lợn biển sống trong các sông hay cửa sông ở Florida, Mexico, Trung Mỹ và Tây Ấn. Hải trư có chiều dài trung bình từ khoảng 3 – 4 m. Thân hình của nó nom có thể giống với thân hình cá nhưng cái đuôi thì khác hẳn đuôi cá. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa hải trư với người họ hàng hải ngưu ở biển của mình. Đuôi hải trư rộng, có dáng hơi tròn, rìa của đuôi không sắc như đuôi cá mà trái lại, tà và hơi tròn nom như cái xẻng, đặc biệt nó nằm ngang chứ không thẳng đứng như đuôi cá. Bộ da dày không có lông, nhẵn thín, chỉ trừ hàng ria mép.

Hải trư sống trong các vịnh, các đầm mặn (lagoon) hay các cửa sông lớn chứ không sống ngoài khơi. Thông thường chúng ưa chỗ biển cạn. Khi không kiếm ăn chúng nằm lấp lửng dưới đáy biển. Ở chỗ nước sâu, chúng uốn cong mình như con tôm, đầu chúi xuống, bốn chân chụm lại, đuôi hướng xuống dưới đáy. Cứ tư thế đó, chúng nằm lấp lửng trong nước. Chúng cũng thường xuất hiện thành từng đàn nho nhỏ đi gặm cỏ.

Hải trư ăn các thực vật thuỷ sinh ở vùng biển cạn. Chúng dùng hai cái vây vừa bơi như mái chèo vừa như đôi tay để lùa cỏ vào miệng. Một con hải trư mỗi ngày có thể ăn từ 30 – 50 kg cỏ. Một con hải trư phát triển đầy đủ có thể cân nặng tới 750kg.

Hải trư Tây Ấn được nghiên cứu nhiều hơn các họ hàng của chúng. Nặng đến 1,6 tấn, kẻ ăn chay béo mập này sống ở vùng ven biển, cửa sông và sông tại một số vùng ở Carribe và Đại Tây Dương. Con đực trưởng thành di chuyển rộng rãi và thường tập trung thành những nhóm lớn xung quanh những con cái sẵn sàng giao phối.Hải trư có thể ở dưới nước 10 – 15 phút và tiêu hoá thức ăn chậm chạp.

Mỗi lứa hải trư thường chỉ đẻ có một con nhưng cũng có khi hai con. Để nuôi con, hải trư nhô đầu và vai lên khỏi mặt nước, hay tay tức là hai cái vây ôm chặt con vào ngực. Hải trư di chuyển rất chậm chạp và hoàn toàn vô hại. Ngày nay, tại nhiều nơi hải trư vẫn bị săn bắt để lấy thịt, da và mỡ.
 

Sea

Member
#5
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần ba: hải ngưu (dugong - Seacow).

Hải ngưu là loài động vật có vú to lớn sống ở biển. Cùng với 3 loài hải trư, đây chính là 4 thành viên duy nhất còn lại của bộ Sirenia – bộ của những loài động vật có vú ăn thực vật ở dưới nước. Cái tên dugong của hải ngưu có nguồn gốc từ tiếng Malay: duyung có nghĩa là nàng tiên cá (mermaid). Hải ngưu là đại diện duy nhất còn tồn tại của họ Dugongidae và họ hàng gần gũi nhất của nó chính là bò biển Steller.

Bò biển Steller được người châu Âu tìm ra vào năm 1741. Không đầy 30 năm sau chúng đã bị tuyệt chủng. Giống như họ hàng gần của chúng là hải ngưu, chúng hiền lành, di chuyển chậm chạp, khiến chúng dễ dàng trở thành mục tiêu đối với những người đi săn. Chúng to lớn hơn hải ngưu nhiều, dài đến 8m và nặng đến 6 tấn. Đặc trưng của chúng là có bộ da nhăn nheo chứ không trơn láng. Đuôi hình chữ V, mãnh ở chóp giống như cá voi.

Hải ngưu phân bố rộng rãi trên vùng biển giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, trải dài trên lãnh hải của ít nhất 37 quốc gia, tuy nhiên phần lớn hải ngưu sống ở vùng biển phía bắc Australia nằm từ vịnh Shark đến vịnh Moreton. Đây là vùng biển có lượng nước sạch không bị ô nhiễm, có độ sâu và thức ăn phù hợp, có dòng biển ấm chảy ngang qua nên rất phù hợp cho loài hải ngưu sinh trưởng và phát triển. Ngày xưa, những người thổ dân Australia vẫn thường săn bắt chúng, di chuyển trên những chiếc thuyền độc mộc nhỏ chỉ đủ hai người nhưng ngày nay, chính phủ đã ngăn cấm hành động.

Giống như hầu hết các loài trong bộ Sirenia ngày nay, hải ngưu có hình dáng hình thoi, không có vây lưng (dorsal fin) hay chi sau (hindlimb). Thay vào đó chúng có hai vây trước dạng mái chèo rất khoẻ. Hải ngưu dễ dàng được phân biệt với hải trư dựa vào hình dáng chiếc đuôi giống như cá heo của nó. Tuy nhiên bộ xương và răng của hải ngưu rất đặc biệt, nó đặc và chắc như sừng có lẽ là đặc nhất trong số các loài động vật, khác với xương cá voi thường xốp. Điều này giúp ích cho chúng có thể nằm lơ lửng sát đáy biển để ăn thực vật.

Hàm dưới mạnh với đệm sừng để nghiền thực vật. Chúng cũng có ngà, chiếc răng cửa lớn mà chỉ con đực mới có. Đây cũng là một trong những điểm khác biệt so với hải trư. Răng của hải ngưu không mọc liên tục như của hải trư. Hải ngưu có những mấu nhô cao trên cột sống chống đỡ cho những cơ bắp rất mạnh để bơi. Chúng vẫn có những vết tích nhỏ còn lại của xương chậu. Những chiếc xương sường dài thích hợp với lá phổi lớn. Lợi có bắp thịt để nhai, ria để tìm thức ăn dưới đáy biển tối tăm.

Hải ngưu thường nhỏ hơn so với hải trư: chúng chỉ dài khoảng 2,7m và nặng từ 250 – 300 kg. Những con đực trưởng thành có thể dài hơn 3m và con cái thì có khuynh hướng to hơn con đực một chút. Tuy được biết là loài ăn thực vật chủ yếu nhưng khi nguồn tảo biển bị giảm xuống thì hải ngưu vẫn ăn những động vật không xương sống (invertebrate).

Hải ngưu sinh một lứa thường chỉ có một con sau 3 – 7 năm. Hải ngưu con sinh ra thường có màu kem nhạt, bú sữa mẹ trong khoảng từ 18 – 24 tháng, dần dần chúng sẽ có màu nâu xám phù hợp với làn nước biển. Vị trí vú của hải ngưu cái nằm ngay sau hai chi (vây) trước rất giống với loài voi ở trên cạn. Chúng sẽ trưởng thành sau 9 – 17 năm và có tuổi thọ gần như con người nếu không bị săn bắt. Mặc dù sống ở biển nhưng hải ngưu vẫn cần những nguồn nước ngọt để chúng có thể uống. Đây cũng là lý do mà hải ngưu không thể sống xa bờ.

Hải ngưu đã bị săn bắt từ hàng trăm năm nay bởi thịt và mỡ của chúng. Số lượng của chúng giảm nhanh gần đến mức tuyệt chủng. Ngoài ra còn phải kể đến các nguyên nhân khác như thiên tai, bão biển, những kẻ thù tự nhiên như cá mập, cá voi sát thủ và cá sấu. Mặc phân bố rộng rãi trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nhiều quần thể địa phương đang bị đe doạ. Trên thế giới chỉ còn lại khoảng 80000 con hải ngưu, trong đó khoảng một nửa sống ở vùng biển phía bắc Australia (theo một số ước tính có thể chỉ còn khoảng 10000 con ở vùng biển này). Hải ngưu có cuộc sống bầy đàn cao và nơi nào còn nhiều thì chúng sống thành bầy, có đến hàng trăm con. Chúng bị săn bắt ở nhiều vùng và hy vọng duy nhất để cứu chúng là làm cho dân địa phương quan tâm bảo tồn chúng.
 

Sea

Member
#9
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Truyền thuyết về những sinh vật độc giác

Một trong những câu chuyện rất thu hút mà các nhà du hành hay kể lại về những sinh vật họ đã nhìn thấy trên vùng đất mới xa xôi, đó là về quái vật độc giác (một sừng). Loài quái vật này có đầu và mình như ngựa, chân trước như chân sơn dương, đuôi như đuôi sư tử, râu như râu dê. Mỗi con độc giác này có một cái sừng dài, mọc xoắn ngay giữa trán.

Và thật kỳ, trong số những sinh vật bước ra từ truyền thuyết thì không có sinh vật nào mà hình ảnh của chúng xuất hiện nhiều như loài ngựa một sừng (unicorn) mà người phương Tây hay gọi là kỳ lân. (Cần lưu ý kỳ lân trong tư tưởng của người phương Đông là một sinh vật khác, có tên thường gọi là Nghê – sẽ giới thiệu trong một đề tài khác).

Sinh vật này xuất hiện trong nhiều nền văn hoá khác nhau với những tên gọi khác nhau. Unicorns trong tiếng Latin, Monokeios trong tiếng Hy Lạp, Unicórnio trong tiếng Bồ Đào Nha, Chi’lin trong tiếng Trung Quốc, Kirin hay Sin-you trong tiếng Nhật, Karkadann trong tiếng Ba Tư, Eenhorn trong tiếng Hà Lan, Einhorn trong tiếng Đức, Licorne trong tiếng Pháp, Unicornio trong tiếng Tây Ban Nha, Alicorno trong tiếng Ý, Had – Keren trong tiếng Do Thái, Enhorning trong tiếng Thuỵ Điển...

Chúng được miêu tả như những sinh vật giống ngựa, mình thon gọn với chiếc sừng toả sáng lấp lánh. Nhưng cách cư xử thì tuỳ thuộc vào từng nền văn hoá khác nhau. Người phương Tây cho là những sinh vật này hoang dã và không thể thuần hoá. Trong khi người phương Đông lại cho rằng chúng rất hoà bình, hiền lành, ngoan ngoãn và mang đến điềm lành. Từ Unicorn xuất phát từ tiếng Do Thái: re’em có nghĩa là sừng, dịch ra tiếng Latin là monoceros nghĩa là một sừng, từ đó chuyển thành chữ unicorn trong tiếng Anh.



Trong một số truyền thuyết, sinh vật này còn có thêm đôi cánh trắng muốt như của thiên nga và nó hoàn toàn có thể tự do bay lượn trên bầu trời. Người ta bảo rằng cái sừng của nó có phép thần thông, ngừa được bất cứ chất độc nào. Bởi vậy cái sừng ấy là vô giá và được người ta săn lùng để làm ly uống rượu. Nhưng cho đến ngày nay, vẫn chưa ai có may mắn tìm ra loài sinh vật kỳ lạ trong truyền thuyết ấy...

Tuy nhiên, không phải là vô căn cứ khi người ta nghĩ ra câu chuyện về quái vật độc giác. Từ xa xưa, thời đại của những con khủng long còn đi lang thang trên khắp địa cầu thì những sinh vật có sừng trên đầu không phải là hiếm. Chúng có mặt ở hầu như khắp mọi nơi trên Toàn Cổ Lục Địa. Những hoá thạch còn lại đã chứng tỏ cho sự tồn tại huy hoàng của chúng ngày xưa. Nhưng đã 65 triệu năm trôi qua, liệu giữa thời đại ngày nay có còn những sinh vật độc giác như trong truyền thuyết từng kể lại hay không?

Đâu đó giữa lòng đại dương xanh thẳm lạnh lẽo nơi cực Bắc của Trái đất vẫn tồn tại một sinh vật kỳ lạ với chiếc nhọn vươn dài đang rẽ nước. Không dễ dàng gì nhìn thấy chúng giữa biển Bắc và hiện nay người ta cũng chỉ biết rất ít thông tin về loài sinh vật lạ kỳ nhưng có thật này. Và có lẽ từ rất lâu rồi, nó chính là khởi nguồn cho truyền thuyết về những quái vật một sừng (the unicorn legends).
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
#10
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần một: Unicorn legends

Người ta tin rằng sinh vật tuyệt đẹp có hình dáng giống như con ngựa này hẳn là phải đã từng tồn tại ở đâu đó rất xa và từ rất lâu rồi. Đối với những con người buổi ban đầu, những sinh vật này không phải là những loài tầm thường, chúng rất thật. Những ghi chép về unicorn đã xuất hiện trải dài suốt từ thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên.

Chính xác là năm 398 trước Công Nguyên bởi nhà triết học và lịch sử học Ba Tư - Ấn Độ tên là Ctesias. Ông đã đi nhiều nơi trên khắp xứ Ba Tư huyền thoại và làm việc ở đó trong suốt 17 năm dưới 2 triều đại. Khi trở về Hy Lạp, ông viết bộ sách Persicha viết về vùng châu thổ Babylon gồm 23 cuốn đề cập đến nhiều vấn đề thời bấy giờ và trong đó có unicorn. Theo Ctesias thì unicorn sống ở Ấn Độ, ông miêu tả nó như một giống lừa hoang, có thể to lớn nhưng ngựa. Cái đầu màu đỏ sẫm và đôi mắt xanh sâu thẳm, cái sừng dài khoảng nửa mét. Những miêu tả này được ông ghi lại theo lời những người thám hiểm Ấn Độ. Có lẽ đó là sự kết hợp giữa tê giác Ấn Độ, linh dương trên dãy Hymalaya và giống lừa hoang.

Nhưng nó đặc biệt xuất hiện rất thường xuyên trong thời Trung Cổ. Có lẽ truyền thuyết unicorn xuất phát từ niềm tin mãnh mẽ vào những câu chuyện dân gian. Sinh vật huyền thoại này nổi bật lên như một biểu tượng của loại hình nghệ thuật cao cấp lúc bấy giờ, đặc biệt nó còn mang ý nghĩa tôn giáo không kém phần quan trọng.

Ngay cả Maco Polo trong chuyến thám hiểm của mình đã nhắc đến unicorn ở một vùng đất nào đó. Người ta tin rằng đâu đó trong khu rừng Hercynian cổ đại ở nước Đức có chứa đựng bằng chứng về những hậu duệ hiện đại của unicorn.

Hầu như không cần phải băn khoăn khi nhắc đến unicorn, nó là biểu tượng cho sự thuần khiết, trong sáng và ngây thơ – những gì tinh tuý tốt đẹp nhất. Bức chân dung trên gợi nhớ lại tấm panô thứ hai trong tác phẩm nổi tiếng "Unicorn Tapestries", ra đời năm 1500 và hiện được lưu giữ ở bảo tàng nghệ thuật Metropolitan như một món quà của John D. Rockefeller Jr.

Khung cảnh xuất hiện của unicorn trong truyền thuyết thường là những nơi rất đẹp: những vạt rừng trống trải, nơi có những vòi phun nước chảy róc rách cùng những bông hoa mùa xuân đua nở, hào quang lấp lánh hay đôi khi là giữa cánh rừng mùa thu đẹp lạ lùng.

Tuy nhiên, điều mà người ta quan tâm nhất đến unicorn bên cạnh vẻ đẹp huyền ảo của nó chính là sức mạnh của phép thuật từ chiếc sừng. Trong những hình trang trí trên thảm, có miêu tả một cảnh rất nhiều sinh vật khác đứng chờ đợi unicorn nhúng chiếc sừng của mình vào nước và sau đó những con vật này sẽ dùng thứ nước thần kỳ đó để chữa bệnh. Và con người cũng tin rằng, chiếc sừng đầy ma thuật đó có khả năng ngăn chặn bệnh dịch, động kinh, và nhiều bệnh tật khác, họ sẵn lòng bỏ ra rất nhiều tiền của và công sức để tìm ra được thứ bột mài từ chiếc sừng này.

Theo như truyền thuyết thì unicorn là một sinh vật kiên cường, không biết sợ hãi, nhanh nhẹn và mạnh mẽ. Lòng dũng cảm của nó thách thức tất cả những người thơ săn gan dạ nhất đuổi theo và sự nhanh nhẹn của nó khiến họ luôn luôn thất bại. Chỉ những cô gái trong trắng thuần khiết mới có thể đến gần và cưỡi được unicorn.

Trong một bài thơ cổ, người ta nói rằng sinh vật huyền thoại này biến mất khỏi thế giới con người bởi vì loài người đã làm cho nó ngày càng xấu xa hơn bởi thói tham lam, ghen ghét... Sự huyền bí của nó chính là một phép màu, giống như cầu vồng, chẳng ai nắm bắt được. Truyền thuyết giống như một bài hát ngọt ngào cứ lưu truyền mãi với thời gian.

Chính vì thế sinh vật tuyệt đẹp này mãi mãi là biểu tượng của sự hồi sinh, của cái đẹp không chút vẩn đục hay tì vết...
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
#11
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần hai: Kỳ lân giữa đại dương.

Sinh vật này không phải là cá mà là một loài động vật có vú sống hoàn toàn ở biển giống như cá voi và cá heo. Nó thuộc họ Cetacea bao gồm 76 loài động vật có vú sống ở biển, suborder là cá voi có răng (giống như cá heo và cá nhà táng). Tên khoa học của nó là: Monodon monoceros, thường gọi là Narwhal. Chữ Narwhal trong tiếng Na Uy cổ có nghĩa là cá voi xác chết (corpse whale). Cái tên này có thể xuất phát từ màu da xám xanh có điểm những đốm trắng nhỏ của chúng, trong rất giống xác chết trôi dạt trên biển, mặc dù con non sinh ra thường có màu nâu. Tuy nhiên do chiếc sừng mà chính xác là răng của nó mà sinh vật này còn có một cái tên thường gọi là kỳ lân biển.

Kỳ lân biển đực đôi khi còn được gọi là loài vật một sừng của biển khơi, có một trong những chiếc răng kỳ lạ nhất so với bất kỳ con vật nào. Giống như người bà con gần gũi của nó là cá voi trắng, nó sống ở vùng nước đóng băng của Bắc cực. Thành viên thứ ba trong họ này là cá heo Irreweddy lại sống ở vùng châu Á nhiệt đới, cách nhau rất xa. Khác hẳn với hầu hết cá voi khác, cả ba loài có đốt xương cổ không gắn cố định, khiến chúng có thể quay đầu.

Kích thước trung bình của nó là từ 4 – 6,1 m không tính chiều dài chiếc răng, nặng khoảng 1600 kg và có kích thước tương đương với một chiếc xe bus. Con cái thường nhỏ hơn con đực, dài trung bình 4m và nặng khoảng 1000 kg. Lúc mới sinh, kỳ lân biển chỉ dài khoảng 1,5 m và nặng 80 kg.

Tuổi thọ trung bình của kỳ lân biển là 50 năm. Thời kỳ thai nghén của chúng kéo dài khoảng 10 – 16 tháng. Con non mới sinh bú sữa mẹ trong khoảng 4 tháng, da màu nâu không có đốm trắng.



Kỳ lân biển là loài ăn thịt (carnivore). Chúng ăn cá , tôm, mực và thậm chí cả những loài động vật có vú sống ở biển khác.

Kỳ lân biển có cơ thể hình trụ dài, không có vây lưng như cá heo hay cá voi, đầu tròn nhỏ, có khả năng quay đầu nhờ sự linh hoạt của đốt sống cổ, miệng nhỏ và mũi cùn. Chúng có một lớp mỡ dài bao bọc giúp giữ ấm cho cơ thể ở vùng biển Bắc cực lạnh giá quanh năm. Vào mùa hè, chúng có thể di chuyển ra gần vùng cửa sông hay các vịnh. Người ta thường gặp chúng ở những vùng biển bắc Canada, đông và tây Greenland, ngoài khơi bán đảo Svalbard và Siberia. Chúng thường xuất hiện ở độ sâu 300 - 400 m.

Tất cả kỳ lân biển đều có 2 chiếc răng ở hàm trên. Sau năm đầu tiên trong cuộc đời mình, răng của kỳ lân biển đực bắt đầu mọc dài ra bên ngoài và xoắn lại. Độ dài của chiếc sừng này có thể đạt đến 2 – 3 m, được xoắn ngược chiều kim đồng hồ và có lỗ xốp ở bên trong. Chức năng của chiếc sừng này thì chưa ai có thể lý giải được, có thể đây là một loại vũ khí kinh khủng nào đó chứng tỏ địa vị của chúng, để giành lấy thức ăn, hay cũng có thể là để khuếch đại các sóng âm mà chúng phát ra. Tuy nhiên có một sự thật là chúng chưa bao giờ dùng chiếc sừng này để đi săn mồi.



Kỳ lần biển có khả năng lặn sâu trong khoảng thời gian từ 7 – 20 phút. Chúng thường phát ra những âm thanh khàn đục để giao tiếp với nhau hay để định vị con mồi cũng giống như những loài cá voi và cá heo khác.

Chúng sống thành từng đàn từ 4 – 20 con, có thể cùng giới hay có đủ cả hai giới. Theo ước tính hiện nay chỉ có khoảng 10000 – 45000 con kỳ lân biển. Người Eskimo (Inuit) vẫn xem việc săn bắt chúng là hợp pháp.

Và đó chính là câu chuyện của loài kỳ lân thời hiện đại.
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
#12
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần ba: câu chuyện về chiếc sừng của loài tê giác quý hiếm.

Với chiều cao 1,8m và cân nặng hơn 4000 kg thì hiển nhiên một con tê giác trắng trưởng thành có kích thước lớn hơn bất cứ loài động vật có vú lớn nào trên cạn, chỉ xếp sau loài voi. Tất cả tê giác đều có một cái đầu lớn, cổ ngắn, ngực to và bốn chân chắc khoẻ. Tuy nhiên đặc trưng (feature) tiêu biểu nhất của loài tê giác chính là chiếc sừng của nó. Từ tê giác (rhinoceros) được hình thành bằng cách ghép hai chữ trong tiếng Hy Lạp: nose (rhino) và horn (ceros). Trong số những sinh vật có sừng trên đầu thì chỉ duy có tê giác là chiếc sừng mọc ra trên mũi của chúng.

Tê giác trên thế giới chia ra thành năm loài, sống ở Châu Phi, Ấn Độ và vùng Đông Nam Á. Tế giác có một sừng hoặc hai sừng là vũ khí tấn công đồng thời để tự vệ. Tê giác nhìn kém, hay nổi giận nhưng chúng rất thính tai, đánh hơi rất nhanh nhẹn. Ở các công viên quốc gia Ấn Độ và Nepal du khách cưỡi voi xem tê giác vì chúng không bao giờ tấn công loài voi. Tuy to lớn và nhiều sức mạnh nhưng thật ngạc nhiên, tê giác lại là những sinh vật ăn chay, chúng không bao giờ đụng đến thịt!

Tê giác có thể chạy rất nhanh bất chấp kích thước nặng nề của mình, khoảng 35 mile một giờ, nhanh hơn hầu hết những con ngựa nhưng chúng hiếm khi giữ được tốc độ này lâu bằng loài ngựa. Ngoài ra tê giác còn nổi tiếng vì rất dễ nóng tính.



Tê giác trắng Châu Phi miệng rộng ăn cỏ, chồi non. Con tê giác khổng lồ to lớn như một con bò mộng và nặng đến 3000 kg. Nó thường dùng chiếc sừng của mình để xới tung đất lên tìm kiếm nguồn muối khoáng. Bên dưới là hình hai chú tê giác trắng.

Tê giác đen Châu Phi, chỉ ăn chồi cây non, môi trên tê giác cong níu được cành cây và nhánh nhỏ, thay vì ăn cỏ. Nó có một đôi môi có thể cầm nắm được làm việc như một ngón tay lớn, đưa bụi cây vào miệng để răng nghiền nát.

Tê giác Sumatra thuộc loài thú quý hiếm, bộ da có lớp lông cứng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Đa số loài thú này sống quanh vùng miền Tây Malaysia, đảo Sumatra và Borneo (Indonesia).

Những con tê giác mới sinh không yếu đuối như con người. Chỉ một giờ sau khi chào đời, tê giác con đã có thể đứng trên 4 chân của mình và đi theo mẹ. Nó chỉ cao 60 cm và nặng khoảng 40 – 40 kg và chưa có dấu hiệu gì của chiếc sừng trên mũi nó. Tê giác mẹ rất tận tụy chăm sóc con, dạy nó mọi thứ cần thiết để tồn tại. Tê giác con sẽ sống xa mẹ khi em chúng sắp sửa chào đời.

Đã từng có thời gian, tê giác có mặt trên tất cả các lục địa ngoại trừ Nam Mỹ, châu Đại Dương, Nam Cực, tuy nhiên bây giờ chúng chỉ còn sống ở châu Phi và châu Á.

Tê giác bị săn lùng triệt để nhằm khái thác lấy sừng. Người Trung Quốc cho rằng sừng có vị thuốc trị bệnh rất hay. Người quý tộc Ả Rập dùng sừng tê làm chuôi cán dao găm. Đàn tê giác hiện nay giảm sút nhanh chóng do việc môi trường sống của chúng bị huỷ hoại cũng như nạn săn bắt phi pháp. Tê giác Java hầu như đã tuyệt chủng, còn tê giác Sumatra (Indonesia) bắt được thử cho gây giống nhưng xem ra không mấy thành công. Những dấu hiệu trông thấy gần đây có thể đoán ra được loài tê giác hoạt động ở trong bang Sabah (Malaysia). Điều này xác định được tê giác còn sống sót ở đảo Borneo (Indonesia) nơi mà người ta cho rằng loài thú này đã tuyệt chủng.
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
#14
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Cám ơn vì đã đánh giá những bài viết ấy là hữu ích. Nếu các bạn có yêu cầu gì thì cứ post, nếu Sea tìm kiếm được sẽ cố gắng dịch nhanh và up lên nhưng cũng không hứa chắc là tất cả mọi câu hỏi đều có thể được giải đáp trọn vẹn.

Unicorn legend đã trả lời xong. Còn loài hoa ăn thịt sư tử thì quả thật Sea chưa từng nghe đến truyền thuyết nào nhắc đến. Nếu được, vui lòng bạn kể rõ hơn truyền thuyết này để Sea có cơ sở tìm kiếm.

Nhân tiện nếu bạn cần thêm những hình minh hoạ thì cứ PM cho Sea, do điều kiện không cho phép Sea đưa lên hết tất cả hình về mỗi sinh vật.
 
#16
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Bí ẩn về chiếc ví của loài ngư nữ

Mỹ nhân ngư là sinh vật biển huyền thoại có mình người và đuôi cá. Từ thời cổ đại, những thuỷ thủ đã dựng nên biết bao câu chuyện về nàng tiên cá, trong đó trứng của loài cá đuối và cá nhóm chó thường được nhầm như là chiếc ví của loài ngư nữ. Thật là một khoảng cách khá xa giữa những câu chuyện truyền miệng và thực tế. Cá đuối được bày bán khắp các chợ, trứng cá đuối bọc trong chiếc túi dài dính chặt trong lớp rong biển và hốc đá, thường gặp khi nước triều xuống ở ven bờ biển. Chiếc túi này đem soi vào chỗ sáng có thể thấy rõ cá con nằm trong bọc trứng là nguồn dinh dưỡng để cá phát triển trong một thời gian mười lăm tháng.

Một con cá đuối bơi nhè nhẹ vẫy đôi cánh rộng bơi lướt đi trông chẳng giống con cá mập đá ngầm béo tròn chút nào. Vậy mà cá đuối cùng mấy anh em chú bác của nó như cá đuối cát Nhật Bản, cá đao răng nhọn đều thuộc cùng nhóm cá mang tấm với cá mập. Chúng đều có bộ xương bằng sụn mềm dẻo như cao su, và có khe mang thay vì nắp mang như ở các cá xương và cá quái. Tất cả các loài cá đuối đều có đôi vây ngực giống như đôi cánh chạy dọc suốt từ đầu đến cuối thân, và các khe mang nằm phía dưới.



Ở mỗi vùng biển có đến 200 loài cá đuối khác nhau. Kiểu bố trí màu sắc trên da cá đuối hết sức khác nhau, giúp chúng nguỵ trang khi ẩn dưới đáy biển. Những đốm trên lưng cá đuối tròn kéo dài đến tận rìa vây ngực, trong khi ở cá đuối đốm lại không thế. Phía ngực và bụng cá đuối từng trắng. Giống như cá mập, cá đuối cũng có một cơ quan cảm ứng rất nhạy cảm , giúp chúng phát hiện ra sự hiện diện của con mồi thông qua sự thay đổi của môi trường nước xung quanh chúng.

Cá đuối có họ hàng gần gũi với loài cá mập tuy hình dạng của chúng khác xa nhau. Mặt dưới của cá đuối có những chiếc mang trông rất giống của cá mập. Bên cạnh đó chúng dùng những chiếc mang này để thổi những luồng nước cực kỳ mạnh xuống đáy biển nhằm lộ ra những con mồi của chúng đang nguỵ trang bên dưới lớp cát. Hầu hết cá đuối có thân hình dẹt, sống nơi đáy biển, ở đó chúng kiếm ăn bằng cách bắt cá, tôm cua, sò ốc – những loài nhuyễn thể cùng giun biển. Chúng dùng hàm răng dẹt để nghiền vỡ con sò.
Hầu hết cá đuối đều dùng vây ngực để bơi, chúng thường hay lướt đi trong nước với những cái vây chuyển động giống như là đôi cánh, hoặc bơi nhanh gần đáy biển với hoạt động của vây chuyển động theo hình gợn sóng. Trên lưng nó có lỗ thở đặc biệt hay còn gọi là khí khổng, giống cái van một chiều cho phép nó hút nước vào khi nằm trên đáy biển.

Cá đuối trưởng thành và sinh đẻ chậm nên bị đánh bắt nhiều. Một con lớn phải mất chín năm nuôi dưỡng, trong khi cá chỉ đẻ mỗi năm 70 trứng và sau 15 tháng trứng mới nở. Phải mất 8 năm để một con cá đuối con trưởng thành và sinh con đẻ cái.

Ngoài ra, loài cá đuối còn được ghi nhận là có khả năng phán đoán ước lượng được sự thay đổi của thời gian mà không cần phải nhìn thấy ánh sáng mặt trời.
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
#17
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần một: Cá đuối thường (cá đuối đen).

Cá đuối hai miệng, sinh vật biển lớn nhất vùng Thái Bình Dương, vây hình cánh đo được 6m. Hai vây hoạt động đều giúp nó bơi nhanh hơn khi trồi ra khỏi mặt nước. Chúng còn được gọi là cá đuối dơi hay cá đuối ma. Người ta từng bắt được một cá đuối thuộc loài này có đôi vây ngực trải rộng đến 7m và nặng khoảng 1300 kg. Con vật vô hại này lọc thức ăn bằng cách dùng hai thuỳ lớn trên đầu lùa các sinh vật nổi vào cái miệng há rộng của nó.



Ngoại trừ thân hình dẹt, còn lại phần đuôi của cá đuối đen khá giống với cá mập, do đó chúng vẫn có thể bơi bằng cách quẫy đuôi uốn lượn như cá mập và không nhất thiết phải dùng đến đôi vây ngực. Không có khả năng tự vệ tốt như cá đuối điện hay cá đuối gai độc nên cá đuối đen phát triển khả năng ẩn nấp nguỵ trang dưới những lớp cát khá tốt và di chuyển rất nhanh nhẹn để chạy trốn.

Đặc biệt ở những khu vực nước thuỷ triều lên xuống mỗi ngày hai lần thì dường như cá đuối đen là bá chủ khu vực này. Vì những loài cá lớn kẻ thù của chúng như cá voi sát thủ thường không thể đi vào vùng biển cạn này, trong khi thức ăn là những loài nhuyễn thể thì tập trung khá nhiều. Đôi lúc chúng còn có thể nhảy lên khỏi mặt nước 1,5m dựa vào đôi vây ngực rất khoẻ của mình.
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
#18
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần hai: Cá đuối gai độc.

Có tới hơn 160 loài cá đuối gai độc, một số loài rất to, sải cánh đến 3 m và nặng hơn 300 kg và chúng sống trên khắp thế giới, cả ở những vùng nước ấm và lạnh, cả nước mặn lẫn ở nước ngọt. Hầu hết chúng đều trang bị một hoặc đôi khi vài gai có nọc độc trên đuôi. Cá đuối đỏ, đuôi có gai nhọn hình răng cưa rất độc nó quất vào con mồi như cái roi gây thương tích và làm thối thịt. Loài cá đuối đốm xanh lam sống ở các vùng nước ẩm thuộc Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương cũng như ở Biển Đỏ. Ở đó, người ta thường thấy chúng náu mình dưới tầng đáy biển có cát.

Loài cá này thường nấp ở đáy biển có cát và các trầm tích, hoặc bơi chầm chậm trong khi đi tìm các loài giáp xác và cá. Chúng thường cắn vỡ con mồi và nghiền nát bằng hai hàm răng cùn. Chỉ khi phải đối mặt với hiểm hoạ, các con cá đuối này mới sử dụng đến ngòi đốt.

Ngòi đốt là những cái gai nhọn bằng xương cứng như sắt và sắc như dao găm, có mép sắc hình răng cưa. Một số loài cá đuối có tới hai hoặc ba ngòi độc. Nọc độc ngòi đốt của cá đuối gai xuất phát từ mô màu trắng chạy dọc hai đường rãnh dưới gai. Ở loài cá đuối gai Châu Âu, gai dài chừng 12 cm, ở những loài cá đuối gai lớn hơn ở vùng nhiệt đới, gai có thể dài đến 40 cm.

Chất độc có tác dụng nhanh trên cơ thể người, nó khiến người ta đau đớn, chỗ bị đốt sưng tấy lên, gây ra khó thở và rối loạn nhịp tim. Trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong.

Cá đuối biển có gai độc (tên khoa học: Dasyatis Violacea) là sinh vật năng động nhất trong họ nhà cá đuối gai độc. Chúng sống lang thang trong các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Thân mình dẹt, gần giống hình tam giác. Có một cái mõm tròn. Mắt nằm trên đỉnh đầu. Thân mình con đực trưởng thành dài khoảng 0,8m, cân nặng khoảng 20kg. Thức ăn chính của cá đuối Dasyatis Violace là động vật thân mềm và cá nhỏ.



Sở dĩ có cái tên “cá đuối gai độc” vì chúng được thiên nhiên ban tặng cho một thứ vũ khí rất lợi hại – gai độc, để bù lại cho cái thân mình trông có vẻ nhu mì, ẻo lả, dễ bị làm hại. Những cái gai nguy hiểm đó chẳng khác nào những mũi dao có tẩm thuốc độc, có thể gây ra những vết thương nghiêm trọng, thậm chí có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người. Ở một số nơi, người ta dùng những cái gai độc này gắn lên trên đầu vũ khí. Cái đuôi của cá đuối trông giống như cái roi. Đuôi dài gần gấp 3 lần chiều dài thân mình. Trên đuôi có 2 cái gai, gai có các cạnh lởm chởm như răng cưa, nối với các tuyến tiết chất độc. Cá đuối gai độc thường điều khiển điệu nghệ cái đuôi của mình để đâm “những mũi dao đáng sợ” đó vào kẻ thù.

Chuyện sinh nở của loài cá nguy hiểm này: thay vì đẻ trứng ra ngoài môi trường nước như những loại cá khác, cá Dasyatis Violacea mái vẫn giữ một trứng trong người mình. Ở trong bụng mẹ, trứng phát triển cho đến khi sắp nở. Con cá đuối non trông chẳng khác gì một bản sao thu nhỏ của cá đuối gai độc trưởng thành.
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
#19
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Phần ba: Cá đuối điện (torpedo ray).

Cá đuối điện sống ở những vùng biển ấm trong Đại Tây Dương, nó phóng ra luồng điện từ trong cơ thể khiến cho con mồi bị tê liệt không thể chạy thoát được. Loài sinh vật này sống khá ung dung vì bản thân nó với khả năng phóng điện không những làm cho con mồi kiếm sợ mà ngay cả những loài ăn thịt dưới đáy đại dương cũng phải e dè chúng.


Cá đuối điện thường bơi chậm, không vội vã nhưng những con cá voi sát thủ khi nhìn thấy chúng đều không hề tỏ ra có ý định tấn công sinh vật nguy hiểm này. Tuy nhiên, những hiểu biết về loài cá đuối điện vẫn còn rất hạn chế.

Chúng hầu như chỉ sốn dưới đáy gần bờ biển. Trong số họ hàng nhà cá đuối điện có một loài dài hơn 1,5 m và nặng cả trăm kg. Loài cá đuối điện có màu đậm phía trên lưng và máu trắng phía dưới bụng, mình tròn và dẹp với một cái đuôi rất khoẻ. Bộ phận phát điện năng của nó nằm ở giữa đầu và mang cá. Những thí nghiệm cho thấy điện năng của nó phát ra chỉ một lần là hết nhẵn và điện năng ấy chỉ phục hồi sau khi nó ăn no và nghỉ ngơi.
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
Top