phần mềm quản lý rác thải thông minh

Oceans

Bán ipad mini 1 16gb wifi only màu trắng

  • Như mới
  • Hà Nội
  • Xem: 5

1.700.000 đ

Seller address:
Chưa có (Lưu ý an toàn khi mua hàng)
kungfuyoga17
Ngày tham gia:
11/9/17
Total Products:
75
Thích đã nhận:
1

Sea

Member
#1
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Câu chuyện đại dương – nơi sự sống bắt đầu

Trái đất cùng với những đại dương mênh mông của mình không phải lúc nào cũng trông đúng như hiện nay. Ở thời kỳ sơ khai, nước ở dạng hơi chiếm đầy bầu khí quyển Trái đất. Khí Trái đất lạnh đi, hơi nước ngưng tụ lại, hình thành nên những đám mây giông. Từ những đám mây này, mưa rơi xuống và tràn đầy những đại dương đầu tiên. Trải qua hàng triệu năm, những vùng đất liền rộng lớn dịch chuyển trên bề mặt Trái đất, hình thành nên những đại dương mới và đại dương cũ mất đi. Các đại dương ngày nay mới hình thành được hơn 200 triệu năm trong khi Trái đất đã tồn tại 4,6 tỉ năm.

Các đại dương bắt đầu thay đổi: Một đại dương khổng lồ, Toàn Cổ Đại Dương bao bọc siêu lục địa khoảng 290 – 240 triệu năm trước. Cuối giai đoạn này, nhiều dạng sống ở biển bị tuyệt chủng. Toàn Cổ lục địa tách ra, một phần trồi lên phía bắc, một phần dạt xuống phía Nam, còn ở giữa là biển Tethys. Quá trình dịch chuyển của lục địa: phần phía Bắc tách ra hình thành nên Bắc Đại Tây Dương vào năm 208 – 146 triệu năm trước. Nam Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương bắt đầu hình thành từ 146 – 65 triệu năm trước.

Ngày nay các đại dương vẫn đang biến đổi hình dạng mỗi năm. Vì các đại dương biến đổi nên cuộc sống ở các đại dương cũng biến đổi theo. Những sinh vật đơn giản đầu tiên xuất hiện từ 3,3 tỉ năm trước, tiếp theo là những dạng sống ngày càng phức tạp hơn. Một số dạng sống đã tuyệt chủng, nhưng những dạng khác vẫn tồn tại ở đại dương ngày nay với ít nhiều thay đổi.

Chỉ cần chạm vào mặt nước ở bất kỳ đại dương nào thì có nghĩa là chúng ta đã được nối liền với tất cả đại dương khác vì biển trên Trái đất là một không gian mênh mông liên tục. Những phần rộng lớn nhất được gọi là đại dương, còn những phần nhỏ hơn gọi là biển. Diện tích nước đại dương bao phủ chiếm 2/3 bề mặt Trái đất, tương đương 97% toàn bộ nguồn nước của hành tinh. Nhiệt độ của nước biển thay đổi tuỳ theo từng vùng khác nhau: ở vùng cực, mặt biển lạnh hơn ở vùng nhiệt đới. Nói chung càng xuống sâu nước biển càng lạnh.

Từ vùng bờ biển xuống đến những tầng nước sâu nhất, các đại dương chính là nơi cư trú của những loài sinh vật đa dạng nhất trên Trái Đất. Các loài động vật hoặc sinh sống ở đáy biển, hoặc ở trong nước, nơi chúng bơi lượn được. Các loài thực vật chỉ có ở tầng nước có ánh sáng mặt trời, đủ để chúng sinh trưởng và phát triển.

Ta có thể thấy các loài động vật ở tất cả các độ sâu của đại dương mặc dù chúng đông đúc nhất tại tầng nước nông có ánh sáng mặt trời. Không phải tất cá các loài động vật có thể bơi tự do đều chỉ sinh sống ở một tầng nước nhất định. Người ta cũng bắt gặp một số loài động vật ở các vùng nước sâu lạnh lẽo, chẳng hạn như cá mập Greenland thuộc Đại Tây Dương, xuất hiện tại những vùng nước băng giá. Hơn 90% các loài sống ở đáy biển. Chỉ một tảng đá cũng là nơi trú ẩn của nhiều loài sinh vật khác nhau.

 

Sea

Member
#4
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Địa hình đáy đại dương

Địa hình đáy biển không giống hoàn toàn như địa hình lục địa, nó bị một lớp nước biển dày nhấn chìm và hiện nay người ta vẫn chưa trực tiếp quan sát hết được. Không phải đáy đại dương chỗ nào cũng giống nhau. Dưới nước có cả núi, cao nguyên, đồng bằng, các vực sâu, nên đáy đại dương cũng có cấu tạo địa lý phức tạp không kém gì trên đất liền.

Vùng ven đáy biển là thềm lục địa và dốc lục địa nhô ra biển; phần giữa đáy biển là dãy núi trung tâm cao lớn, một bên của dãy núi này là các hố sâu đáy biển to nhỏ và độ sâu không đều; giữa những dãy núi này và thềm lục địa hoặc giữa các dãy núi là lòng chảo biển rất rộng. Ngoài ra dưới đáy biển còn có núi lửa đang hoạt động và những núi lửa đã ngủ yên. Trong quá trình mạch núi dưới đáy biển nhô cao, đỉnh núi nhô lên khỏi mặt nước thành đảo, và nếu các đỉnh núi liên tục nhô lên khỏi mặt nước thì sẽ hình thành quần đảo.

Các lớp vỏ khổng lồ của Trái Đất vận động như một băng chuyền. Khi những vùng mới ở đáy đại dương hình thành tại các trung tâm đang mở rộng ra thì các vùng cũ lại biến mất vào tâm địa cầu nóng bỏng. Đây cũng chính là quá trình hình thành vực Mariana và những cung đảo gần đó.

Độ sâu trung bình của tất cả các đại dương là 3650m, vùng sâu nhất là vực Mariana ở Thái Bình Dương, phía đông Philipin, sâu 10920m. Đại dương có độ sâu trung bình lớn nhất là Thái Bình Dương khoảng 4300 m và vùng biển có độ sâu trung bình thấp nhất là biển Bantic, chỉ khoảng 55m, đây cũng là một biển trẻ mới hình thành từ sau kỷ băng hà gần đây nhất.
 

Sea

Member
#5
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Những hạt muối đến từ biển cả

Những người đã nếm qua nước biển đều biết: nước biển có vị mặn, nhưng trong vị mặn đó lại tìm thấy vị đắng. Vốn trong nước biển, cứ 1000 g nước biển lại chưa 35 g các chất hoà tan, trong đó muối ăn chiếm 27 g, chiếm 78% các chất hoà tan cho nên nước biển có vị mặn. Mặt khác trong nước biển, hỗn hợp clor và magnesium (Mg) có hơn 3,8 g, chiếm 11% các chất hoà tan cho nên nó có vị đắng. Hàm lượng hai loại muối kể trên đã chiếm tới 89% các chất hoà tan, tổng số các chất hoà tan còn lại chỉ chiếm 11%. Do đó, nước biển có vị mặn và trong vị mặn ấy lại có chứa vị đắng.



Clorua natri, còn gọi là natri clorua, muối ăn, muối, muối mỏ, hay halua, là hợp chất hóa học với công thức hóa học NaCl. Clorua natri là muối chủ yếu tạo ra độ mặn trong các đại dương và của chất lỏng ngoại bào của nhiều cơ thể đa bào. Là thành phần chính trong muối ăn, nó được sử dụng phổ biến như là đồ gia vị và chất bảo quản thực phẩm.

Clorua natri là khoáng chất thiết yếu cho sự sống trên Trái Đất. Phần lớn các mô sinh học và chất lỏng trong cơ thể chứa các lượng khác nhau của clorua natri. Nồng độ các ion natri trong máu có mối liên quan trực tiếp với sự điều chỉnh các mức an toàn của hệ cơ thể-chất lỏng. Sự truyền các xung thần kinh bởi sự truyền tính trạng tín hiệu được điều chỉnh bởi các ion natri. (Các ion kali- một kim loại có các thuộc tính rất giống natri, cũng là thành phần chính trong cùng các hệ cơ thể).



Dung dịch 0,9% clorua natri trong nước được gọi là nước đẳng trương hay dung dịch sinh lý học do nó là đẳng trương với huyết tương. Nó được biết đến trong y học như là normal saline. Sung dịch nước đẳng trương là cơ sở chính của phẫu thuật thay thế chất lỏng được sử dụng rộng rãi trong y học để ngăn chặn hay xử lý sự mất nước, hay để truyền ven để ngăn sốc do mất máu. Người là dị thường trong số các loài linh trưởng do có sự tiết ra mồ hôi chứa một lượng lớn clorua natri.

Muối biển có ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt và sản xuất của nhân loại. Muối ăn làm thức ăn thậm đậm đà, đồng thời con người cũng cần phải bổ sung một lượng muối nhất định mới có thể sinh hoạt và làm việc bình thường. Người bị thiếu muối thì tay chân bủn rủn, toàn thân mệt mỏi. Muối còn là nguyên liệu quan trọng của công nghiệp hoá học, như công nghiệp chế tạo kiềm, acid...



Tuy nhiên độ mặn của nước biển (hàm lượng muối) cũng khác nhau ở những vùng biển, đại dương khác nhau. Một trong những vùng biển mặn nhất là Hồng Hải, nơi đây có tỉ lệ bốc hơi nước rất cao, còn lượng nước sạch đổ vào lại rất thấp. Một trong những nơi có độ mặn thấp nhất là biển Bantich, nơi có lượng nước sông đổ vào rất lớn.
 

Sea

Member
#6
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Phần một: Hồng Hải – biển mặn nhất trên thế giới.

Ở phía Tây bán đảo phần Tây châu Á với đại lục châu Phi có một vùng biển hẹp dài gọi là Hồng Hải, nó là biển mặn nhất trên thế giới. Hàm lượng muối bình quân của Hồng Hải: trong 1000 g nước biển có 40 g muối, ở phía Bắc của nó tới 45,8 g, là vùng biển có hàm lượng muối cao nhất trên thế giới. Do nước biển có hàm lượng muối quá cao, sức đẩy rất lớn nên người nằm trên mặt nước rất khó bị chìm.



Hồng hải dài hơn 2000 km, chiều rộng nhất là 300 km, độ sâu lớn nhất là 3000 m. Cửa dẫn nước vào là eo biển Aden, đầu bắc qua kênh đào Suez và Địa Trung Hải nối thông với Đại tây Dương, đây là đường hàng hải quốc tế quan trọng trên thế giới.

Trường hợp bình thường, nước biển của Hồng Hải là màu xanh da trời và màu xanh lá cây, về mùa hè nhiệt độ nước tăng lên, có một loại chùm tảo lông màu hồng mọc rất nhanh, nước biển chuyển thành màu nâu hồng nên nó có tên gọi là Hồng Hải.



Hồng hải là biển trẻ, lịch sử tách bán đảo Ả rập với châu Phi mới có 2000 năm. Hai bên bờ Hồng Hải vẫn tiếp tục tách rời với tốc độ mỗi năm là 2,2 cm, mở rộng diện tích vùng biển. Những năm 60 của thế kỷ XX, đo được mấy nơi có hàm lượng muối nhiều nhất (74 - 310 g), nhiệt độ nước cao nhất (34 – 56oC). Đó là hiện tượng hiếm thấy của tự nhiên, cho đến bây giờ vẫn còn là một câu đố.

Khu vực này thuộc khí hậu nhiệt đới sa mạc, quanh năm ít mưa, nóng và bốc hơi nhiều. Nhiệt độ bình quân hàng năm trên 20oC, tháng tám bình quân cao hơn 32oC, lượng mưa hằng năm chỉ có 25mm. Do nhiệt độ cao, quanh năm có gió to, lượng nước bốc hơi hàng năm trên 2100mm, gấp 84 lần lượng mưa. Dưới điều kiện đặc biệt ấy, nước biển bị hao hụt nhiều, lượng muối tích luỹ nhanh nên hàm lượng muối của Hồng Hải cao, nhất là không có nước sông từ đại lục chảy ra nên độ muối của biển càng tăng.

Tuy nhiên, khác với biển Chết, Hồng Hải không bao giờ có thể bị bốc hơi cạn hết được. Nhờ eo biển Aden ở phía Nam nên có sự giao lưu nước với Ấn Độ Dương, lượng ngước từ Ấn Độ Dương chảy vào vượt quá lượng nước chảy ra của Hồng Hải. Ở phía Bắc, lượng nước giao lưu với Địa Trung Hải qua kênh đào Suez rất nhỏ cho hàm lượng muối ở phía Bắc cao hơn phía Nam.
 

Sea

Member
#7
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Phần hai: Biển Chết – một vùng biển chết.

Nước ở Biển Chết mặn hơn ở bất kỳ đại dương nào khác bởi vì nước dồn về đây thường bốc hơi dưới sức nóng của mặt trời, để lại muối mặn. Dĩ nhiên bạn sẽ thắc mắc tại sao Hồng Hải chứ không phải là Biển Chết mới là vùng biển có độ mặn cao nhất trên thế giới. Câu trả lời thật đơn giản vì trước hết Biển Chết không phải là biển mà chỉ là một cái hồ nước lớn, hoàn toàn không phải biển vì nó nằm kín trong đất liền. các vùng biển thật sự đều phải có vùng biển ăn thông với đất liền.

Người đầu tiên đặt cho Biển Chết cái tên như thế là các tác gia cổ người Hy Lạp. Người Do Thái cổ thì gọi nó là Biển Mặn (điều này thì quá hiển nhiên rồi!). Người Ả Rập thì gọi nó là “Biển Đang Cạn”. Qua thật đúng là biển chưa chết mà là đang chết dần theo thời gian giống như cái tên của nó nhưng có lẽ cũng còn khá lâu nữa thì Biển Chết mới biến mất.

Gọi biển thì quá nhỏ, gọi hồ thì lại hơi lớn nhưng nếu định nghĩa hồ là một vũng nước khá lớn nằm lọt thỏm trong lục địa thì Biển Chết quả thật là một cái hồ nước mặn khá lớn nhưng cạn, không sâu nằm giữa nước Jordanie và nước Israel, trong một cái vực hay là khe, chỗ đất sụt của vùng này.



Biển Chết có chiều dài khoảng gần 80 km và chiều ngang từ 5 đến 18 km. Cái khác lạ của Biển Chết so với các biển khác là ở những điểm này. Trước hết, đây là vùng nước thấp nhất trên thế giới. Mặt nước Biển Chết nằm dưới mực nước biển thường tới 300 m. Phần phía Nam của Biển Chết rất sâu nhưng phần phía Bắc của nó thì đáy biển chỉ cách mặt nước khoảng 300 m. Không có dòng nước nào từ Biển Chết chảy ra vì nó quá thấp và hơn nữa nó nằm hoàn toàn trong lục địa.

Từ phía Bắc có con sông Jordan chảy vào và quanh biển cũng có vài con suối nhỏ đổ vào. Tuy nhiên lượng nước do sông Jordan và mấy con suối đổ vào lại nhỏ hơn lượng nước bốc hơi đi mất. Bởi vậy, Biển Chết mỗi ngày một cạn dần. Cách nay hàng triệu năm thì mực nước Biển Chết lúc đó cao hơn mực nước Biển Chết ngày nay tới 300 m, nghĩa là cao hơn cả mực nước Hồng Hải hiện nay nữa. Thời đó thì trong Biển Chết có các sinh vật nhưng rồi có một thời kỳ khô hạn kéo dài, nước biển bốc hơi đi quá nhiều mà các sông suối tiếp nước cho Biển Chết lại chẳng là bao nhiêu nên Biển Chết cạn dần và thu nhỏ lại và không một sinh vật nào có thể sống nổi trong nước Biển Chết.

Tuy nhiên các chất hoà tan trong nước Biển Chết không bốc hơi nên cứ mỗi ngày mỗi đậm thêm các chất khoáng như muối, bồ tạt, Mg, chlorid và bromin. Nước Biển Chết trơn và sền sệt như dầu vì có chứa chất CaCl2. Các chất khoáng trong Biển Chết rất có giá trị. Người ta ước lượng chỉ riêng lượng potassium chứa trong nước Biển Chết cũng đã là 2 triệu tấn. Nước Biển Chết có nồng độ muối cao nhất so với bất cứ biển nào trên thế giới. Nồng độ muối ở đây cao hơn gấp 6 lần các biển khác. Nếu bạn chưa biết bơi, bạn cứ đến Biển Chết để tập bơi vì ở đó bạn không lo bị chìm. Nước biển chỉ ngập đến vai bạn do nước biển có nhiều muối khoáng nên sức đẩy của nó mạnh hơn.

 

Sea

Member
#8
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Phần ba: Biển Baltic - vùng biển nhạt nhất trên thế giới.

Biển nhạt nhất có nghĩa là biển có hàm lượng muối trong nước ít nhất. Biển Baltic là biển nhạt nhất trên thế giới, nó nằm ở vùng Bắc Châu Âu, là biển trong đất liền (biển nội lục) lấn sâu vào đại lục Châu Âu, ba mặt là đại lục, phía Tây chỉ có một eo Cattegat của vùng biển này rất hẹp để nối với Đại Tây Dương. Từ phía Bắc đến Nam dài khoảng 1300 km, giữa Đông và Tây rộng nhất là 600 km, độ sâu lớn nhất khoảng 460 m.

Bản đồ vị trí biển Baltic:


Bờ ven biển Baltic khá gấp khúc, nước tương đối nông, lục địa xung quanh lại tương đối thấp phẳng vì 60 triệu năm trước đây, toàn bộ châu Âu bị một lớp băng dày phủ kín; về sau do nhiệt độ khí hậu tăng cao, sông băng tan dần từ phía Nam lên phía Bắc, biển Baltic là nơi cuối cùng tan hết băng. Do sự xâm thực của sông băng và tác dụng tích tụ mà hình thành nơi có địa thế thấp bằng phẳng, nhiều hồ, bờ biển gấp khúc; phần lớp số băng tích lại thành đống dưới đáy biển, nước nông. Vậy biển Baltic là do tác dụng của sông băng tạo nên.

Trong 1000 g nước biển Baltic có chứa 6 g muối, đầu tận cùng phía Bắc chỉ có 2 g, thông thường là từ 4 – 5 g, chỗ cửa ra phía Tây của biển Baltic có thể lên tới 20 g nhưng như thế vẫn còn là ít so với hàm lượng muối trung bình của các đại dương trên thế giới.

Biển Baltic nằm ở phía Bắc, Bắc vĩ độ 55o, do Bắc vĩ độ hơi cao, về mùa mùa nóng, nhiệt độ mặt nước dưới 15oC, về mùa đông thường là 0oC, cá biệt có năm toàn bộ bị đóng băng. Cho nên nhiệt độ quanh năm tương đối thấp, khả năng bốc hơi kém, lượng bốc hơi trong năm nhỏ hơn lượng mưa trong năm. Vùng biển này nằm trong khu vực ôn đới, khí hậu bị biển khống chế, lượng mưa trong năm tương đối nhiều, vượt quá 500 mm, cá biệt có nơi tới hơn 1000 mm, cuối năm trời râm sương nhiều. Xung quanh bờ biển Baltic có nhiều sông đổ nước ngọt ra biển, diện tích nước ngọt tụ tập lớn hơn 4 lần diện tích biển Baltic. Lượng nước ngọt mỗi năm của các con sông này đổ ra biển Baltic lên tới 437 km3.

Vì eo biển Catteegat thông giữa biển Baltic và Đại Tây Dương ở vùng nước rất hẹp nên lượng nước giao lưu rất ít. Hàm lượng muối trong nước biển Baltic nhỏ nên chỉ có lớp nước trên của ep chảy ra còn lớp nước dưới lại chảy vào biển Baltic vì hàm lượng muối của Đại Tây Dương cao. Do những nguyên nhân kể trên mà biển Baltic trở thành biển có hàm lượng muối thấp nhất và có nước biển nhạt nhất trên thế giới.

 

Sea

Member
#9
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Những đại dương trên thế giới ngày nay

Năm đại dương trên thế giới hiện nay theo thứ tự từ rộng nhất tới nhỏ nhất: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dưong, Nam Băng Dương và Bắc Băng Dương. Con số này thay đổi rất nhiều theo lịch sử, có lúc người ta chỉ công nhận có 3 đại dương trên thế giới. Đại dương luôn ẩn chứa biết bao điều bí ẩn. Người ta tin rằng những điều họ biết về mặt trăng hay sao Hoả thậm chí còn nhiều hơn những hiểu biết của họ về đại dương và những sinh vật sống trong đó...
 
#10
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Phần một: Thái Bình Dương.

Thái Bình Dương rộng nhất, bao phủ diện tích 166km2 và rộng gấp 13 lần Bắc Băng Dương, hầu như chiếm đến ½ diện tích biển cả thế giới. Cái tên Thái Bình Dương có lẽ xuất phát từ trong chuyến đi vòng quanh thế giới của nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Magellan. Khi đi ngang qua vùng biển này, cuộc hành trình diễn ra rất êm xuôi và thuận lợi, gió nhẹ và không quá dữ dội, đoàn thám hiểm hoàn toàn không gặp chút trở ngại nào khi vượt qua đây nên họ đặt tên cho vùng biển ấy là biển Thái Bình.

Chiều rộng nhất từ Đông qua Tây là gần 20000 km, chiếm ½ vòng tròn quanh Trái Đất. Do đó lượng nước của Thái Bình Dương cũng là nhiều nhất. Về độ sâu bình quân và độ sâu lớn nhất thì Thái Bình Dương cũng chiếm vị trí quán quân. Khe vực sâu nhất trên thế giới nằm ở Thái Bình Dương: vực Mariana ở Thái Bình Dương, phía đông Philipin, sâu 10920m.

Bờ phía Đông và bờ phía Tây của Thái Bình Dương rất khác nhau, bờ phía Đông song song với các dãy núi dọc bờ biển, bờ dốc đứng, thẳng. Đảo, quần đảo, bán đảo ở bờ biển phía Tây lại tập trung, bờ biển gấp khúc nhiều, có nhiều vịnh và cảng tốt.

Số lượng đảo ở Thái Bình Dương có lẽ là nhiều nhất ở trên thế giới. Chúng nằm rải rác khắp trên đại dương nhưng tập trung nhiều quanh xích đạo và gần lục địa Australia. Có những đảo khá lớn nhưng đa số là đảo nhỏ, có những đảo chỉ cao hơn mực nước biển vài mét và sự tồn tại của những hòn đảo này đang bị đe doạ khi mực nước biển không gần dâng cao.

Hình dạng đảo ở Thái Bình Dương rất kỳ lạ, hiếm thấy: có đảo thì dựng đứng trên mặt biển, tựa như một cái nồi úp ngược, có đảo thì vây thành một vòng, tựa như đặt một vành hoa trên mặt nước, có đảo xếp thành vòng cung... Những hòn đảo này là nơi neo đậu của các tàu bè và là nơi ẩn náu của các loài chim thú.

 
#11
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Phần hai: Đại Tây Dương.

Đại Tây Dương là vùng biển giữa eo Gibraltar của Địa Trung Hải đến quần đảo Canali, về sau chỉ rộng ra toàn vùng biển. Trong tiếng Anh, Đại Tây Dương có nghĩa là đại dương phía Tây của Tây châu Âu. Đại Tây Dương nằm giữa châu Âu, châu Phi, châu Nam Bắc Mỹ. Phía Bắc giáp Bắc Băng Dương, phía Nam tiếp Nam Băng Dương.

Giữa Đông và Tây, Đại Tây Dương hẹp, phía Nam Bắc kéo dài, tựa như hình chữ s. Từ Nam lên Bắc dài 1,6 vạn km, là biển dài nhất, chiều rộng giữa Đông và Tây từ 2400 – 5500 km2, là biển hẹp nhất. Do đó Đại Tây Dương là một biển gầy dài. Diện tích Đại Tây Dương khoảng 9000 vạn km2, là biển lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Thái Bình Dương. Lượng nước của Đại Tây Dương chiếm khoảng ¼ tổng lượng nước biển của thế giới.

Hai đường ven biển phía Đông và Tây có thể coi là song song với nhau, đường ven phía Nam thẳng băng còn đường ven phía Bắc thì gấp khúc, có nhiều vịnh, eo, biển vùng ven và cảng tốt.

Phần lớn đảo, quần đảo rải rác ven đại lục, ít có giữa biển khơi. Có nhiều con sông nổi tiếng trên thế giới đổ ra bờ Đại Tây Dương. Kênh đào Suez của Ai Cập khai thông đem lại nhiều thuận tiện cho sự đi lại từ Đại Tây Dương vào Ấn Độ Dương. Trên mặt biển cách bờ phía Đông châu Bắc Mỹ không xa là quần đảo Bermuda, còn gọi là đồng cỏ trên biển, chúng ta gọi là biển tảo đuôi ngựa. Tảo biển ở đó có nhiều màu sắc, giống như cỏ xanh tươi tốt, rậm rạp trên thảo nguyên vậy.

 
#12
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Phần ba: Ấn Độ Dương.

Ấn Độ Dương nằm giữa châu Á và châu Phi, châu Đại Dương, phía Bắc bị lục địa phong toả, phía Nam giáp Nam Băng Dương. Phần phía Nam, Đông, Tây thông với Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Trước công nguyên hơn 3000 năm, các thương gia Ấn Độ ở miền Đông đã sinh sống và đi biển ở Bắc Ấn Độ Dương, họ gọi vùng biển đó là Ấn Độ Dương.



Chiều dài nhất từ Nam đến Bắc là 8000 km, từ Đông sang Tây rộng khoảng 5000 – 7000 km, là biển mập lùn, có chiều dài tương đối ngắn, chiều rộng lại lớn. Diện tích khoảng 7600 vạn km2, độ sâu bình quân là 3700 m.

Bờ biển phía Bắc gấp khúc, có nhiều biển vùng ven, nội hải và eo, đường bờ phía Đông và Tây tiếp nối với lục địa châu Phi, châu Đại Dương thì thẳng băng, ít vịnh và eo.Vịnh Persic ở phía Bắc là khu tập trung khai thác dầu mỏ nổi tiếng thế giới. Hồng Hải ở phía Tây Bắc thông với kênh đào Suez là tuyến hàng hải quan trọng. Eo Malacca ở phía Đông Bắc là yết hầu trên biển, giao thông nhộn nhịp nhất thế giới.

Sông chảy vào Ấn Độ Dương tương đối ít, chỉ có mấy con sông nổi tiếng như sông Hằng, sông Ấn Độ.

 
#13
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Phần bốn: Nam Băng Dương.

Có một vùng nước độc lập xung quanh đại lục Nam Cực và phía Bắc không có ranh giới lục địa, nó là vùng nước hình vòng, gồm một bộ phận của Nam Thái Bình Dương, Nam Đại Tây Dương và Nam Ấn Độ Dương. Biển vùng ven của đại lục Nam Cực được gọi là Nam Băng Dương. Vì phía Băc không có ranh giới đất liên theo như thông lệ nên nhiều nhà khoa học không đồng ý vẽ tách ra một Nam Băng Dương. Do Nam Băng Dương cũng có cấu tạo lòng chảo đáy biển, nhiệt độ, độ mặn, hệ thống hải lưu, hệ thống sinh vật... nên một số nhà khoa học khác cho rằng: đem vùng biển đó gộp lại thành một chỉnh thể thống nhất sẽ có lại hơn cho nghiên cứu và đồng ý vẽ riêng vùng biển này ra. Vì thế mà đã từng có nhiều tên gọi như: Nam Cực Dương, biển Nam Cực, Nam băng Dương, Nam Đại Dương...



Nhưng việc xác định ranh giới phía Băc vẫn còn nhiều bất đồng. Gần đây có nhiều văn kiện nhiều lần đề cập đến tên gọi của Nam Băng Dương, ranh giới phía Bắc của nó thay đổi theo mùa, trong phạm vi Nam vĩ tuyến 380 – 420, nhiệt độ lớp nước mặt biển của ranh giới này từ 12 – 15oC, cũng tương đương với vòng ngoài của lòng chảo đáy biển quanh cực. Hơn một nửa Nam Băng Dương đóng băng vào mùa đông và suốt mùa hè, một phần lục địa Nam Cực vẫn bị băng vây bọc.

Nếu theo ranh giới để vẽ đường ranh giới phía Băc thì diện tích của nó cũng không cố định, có lẽ là xấp xỉ gần bằng diện tích của Ấn Độ Dương. Vùng nước hình vòng có chiều rộng bình quân khoảng 2500 km, độ sâu lớn nhất là 8264 m.

Nam Băng Dương có dòng chảy vòng (hoàn lưu) quấn quanh cực, nó dựa sát đại lục Nam Cực, chảy từ Đông sang Tây, lực rất yếu; dòng hải lưu phía ngoài từ Tây sang Đông có lực rất mạnh, nó là chủ thể của dòng hải lưu Nam Băng Dương, gọi là dòng trôi hình vòng, cũng còn gọi là dòng trôi gió Tây.

Độ mặn bình quân của biển trên thế giới là trong 1000 g nước biển có chứa 35 g muối, ở Nam Băng Dương thấp hơn trị số bình quân đó một chút, chỉ chứa 34,7 g muối. Nhiệt độ nước ở Nam Băng Dương rất thấp, ở lớp nước nước trên mặt bình quân là -1,9oC.

Lớp băng phủ dày ở ven bờ đại lục Nam Cực bị nứt vỡ chảy đổ vào Nam Băng Dương, hình dạng như hàng vạn núi băng trôi trên mặt biển, núi băng tận phía Bắc có thể trôi đến Nam vĩ tuyến 40o. Ngày nay, núi băng lớn nhất dài đến 330 km, rộng 96 km, cao hơn mặt biển khoảng 30 m. Núi băng là một trở ngại lớn cho việc thông thương tàu thuyền.

Sinh vật ở Nam Băng Dương có: khuê tảo, tôm, cá và cá voi... Nguồn tôm rất phong phú, một năm có thể thu bắt được 100 triệu tấn. Ngoài ra còn có hải cẩu (chó biển), chim cánh cụt hoàng đế là động vật tiêu biểu nhất của châu Nam Cực.

 
#14
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Phần năm: Bắc Băng Dương.

340 năm trước, nhà thám hiểm Hà Lan Barents vẽ vùng biển này thành một biển độc lập, gọi là Bắc Băng Dương. 150 năm trước, Hội Địa lý Luân Đôn nước Anh đặt tên là Bắc Băng Dương. Bắc Băng Dương lấy Bắc cực làm trung tâm, là vùng biển khí hậu quanh năm rất giá lạnh, những mảng băng trắng xoá suốt năm tháng không tan phủ lên mặt biển và trôi nổi, người ta gọi là “biển không sợ lạnh”.

Bắc Băng Dương ở tận đỉnh phía Bắc Trái Đất, bao lấy Châu Á, Châu Bắc Mỹ, Châu Âu. Giữa Châu Á và Châu Bắc Mỹ có eo biển Bering nối thông với Thái Bình Dương, giữa Châu Âu và Châu Bắc Mỹ có một vùng nước khá rộng thông với Đại Tây Dương.



Bắc Băng Dương là đại dương nhỏ nhất, diện tích không tới 1500 km2, chỉ là 1/12 của Thái Bình Dương. Độ sâu bình quân không tới 1100 m, không bằng 1/3 của Thái Bình Dương. Nơi có độ sâu lớn nhất là khoảng 5500 m, chỉ bằng ½ nếu so với Thái Bình Dương.

Đường ven bờ Bắc Băng Dương gấp khúc, có nhiều biển vùng ven nông nhưng rộng. Bắc Băng Dương có nhiều đảo và về số lượng chỉ đứng sau Thái Bình Dương, chiếm vị trí thứ nhì trong các đại dương. Đảo Greenland lớn nhất thế giới nằm giữa Bắc Băng Dương và Đại Tây Dương.

Do khí hậu lạnh giá, băng phủ quanh năm nên công việc điều tra nghiên cứu tương đối ít. Mãi đến những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, người ta mới lập một trạm trên mặt băng để nghiên cứu các thí nghiệm. Cho nên Bắc Băng Dương là một biển người ta ít nghiên cứu và tìm hiểu. Bắc Tâm của Bắc Băng Dương vĩnh viễn bị một lớp băng che phủ. Mùa đông lớp băng này phình rộng ra, còn mùa hè thu hẹp lại do băng tan.

Bắc Băng Dương là một thế giới băng tuyết tương đối bình thản, băng trên biển dày tới 2 – 3 m, trên những đảo cũng bị lớp băng tuyết dày phủ kín. Băng ở ven đảo vỡ ra và trôi xuống biển hình thành những núi băng nhỏ, mảnh băng nhô cao khỏi mặt nước tới hơn 20 m tựa như những hòn đảo nhỏ, chúng theo dòng nước biển trôi từ từ theo một hành trình rất dài.

 
Top