Phân compost cuả rác thải đô thị phần 3)

Hotline: 1800 1522

Ứng dụng tiện ích

App yeumoitruong.vn

App Store Google Play

App Gom Rác GRAC

App Store Google Play

Chia sẻ trang

huunam

Cây công nghiệp
Bài viết
379
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
12.3 ECONOMICS
Introduction
 Kinh tế là yếu tố chính trong tất cả các giai đoạn của một khối phân compôt có chất lượng. Thật vậy đây là một trong những mối quan tâm hàng đầu để đăng ký quyết định chọn lọc khối phân nhu một vấn đề quản lý chất thải và lựa chọn phương pháp xử lý. Vấn đề kinh tế tham gia vào tất cả các quyết định sau đó bao gồm sự bổ sung có chọn lọc. Do đ1o nó ảnh hưởng đến sự chọn lọc cuả một hệ thống phân compôt đặc biệt và trang thiết bị liên quan. Quan trọng nhất là hoạt động của nó như một sự bắt buộc trong việc hoạt động một cách liên tục mà trong đó họat động sau đó có thể kéo dài như điều kiện kinh tế cho phép. Cơ sở lập luận này nhấn mạnh nhu cầu để có cơ sở về mặt tài chính đủ lớn mạnh để đáp ứng những vấn đề biết trước cũng như không thấy trước được.
 Vì sẽ trở thành sự thật đối với vấn đề kinh tế của tất cả nhiều khả năng chọn lựa việc quản lý chất thải nên tình trạng kinh tế phân compôt được đánh giá bằng phạm vi khu vực mà chi phí được cân bằng qua việc bồi thường. Chi phí bao gồm những vấn đề liên quan đến các điều kiện (như vốn, sự hoạt động và việc baỏ dưỡng) và liên quan đến việc chuyển nhượng và tiếp thị đối với sản phẩm. Việc bồi thường bao gồm (1) bản kê khai về phạm vi rộng lớn liên quan đến phân compôt và các sản phẩm cuả nó, (2) tránh tốn kém nhiều chi phí, (3) thu nhập từ việc bán sản phẩm và (4) gom góp chi phí tài trợ.
 Mục quan tâm trong việc phân tích tài chính của phân compôt và những quyết định để xem xét việc chọn lựa của phân compôt là mạng lưới tài chính. Mạng lưới tài chính có thể được làm rõ theo phương pháp số học như sau:

Mạng lưới tài chính = chi phí tổng quát – ( thu nhập + chi phí rủi ro + những
phúc lợi khác ) (12.10)

 Yếu tố chính của việc không chắc chắn của phương trình này là việc phân chia giá trị tiền tệ cho các phúc lợi.
 Chi phí của phân compôt được thảo luận dưới ba vấn đề chính sau: chi phí phân compôt nói chung, hỗn hợp phân compôt MSW và chất thải sân bãi.
 Để hợp với ba tiêu chí này thì vấn đề đầu tiên là xử lý với phân compôt nói chung ( có nghĩa là chi phí của tiến trình phân compôt sẽ được cung cấp toàn bộ cho tất cả chất thải ). Điều này nhấn mạnh là những vấn đề đang đề cấp là sự giải thích và sự sử dụng dữ liệu được thông báo trong văn bản. Vấn đề thứ hai và ba tập trung vào chi phí riêng biệt lần lược của chất thải rắn và chất thải sân bãi.
 Số liệu kinh tế thể hiện trong bản in đầu tiên của quyển hướng dẫn Handbook còn sót lại là dữ liệu có giá trị nhất. Những số liệu này là kết qủa của nhiều sự phân tích toàn diện của phân compôt ở Mỹ. Việc thiếu nhiều dữ liệu phân tích toàn diện hiện tại trong văn bản là kết qủa hai phần chính của qũy tài trợ cho việc phân tích như trên của chính phủ liên ban và quốc gia và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Tầm quan trọng của dữ liệu kinh tế xuất hiện trong phần này giữ nguyên tính chinh xác mặc dù thơì gian đã lâu. Trong khi chi phí hoạt động và đồng vốn có thể tăng lên đến 30% kể từ năm 1990 nếu chỉ xảy ra vấn đề lạm phát trong tài khoản, chi phí tăng hiện nay đã giãm xuống, đang được ổn định bằng (1) việc tăng tính hiệu qủa của tiến trình và chất lượng sản phẩm ( và vì thế tăng lơị tức từ việc bán sản phẩm phân compôt) và (2) bằng súc ép cạnh tranh đáng kể từ vbiệc giảm chi phí quản lý cho việc chọn lọc chất thải.
General Composting Costs
 Gross Costs ( Tổng chi phí) Tổng chi phí được trích dẫn trong tài liệu bao gồm một dãy các số liệu. Trường hợp này là sự phản ánh của lãi được áp dụng vào chi phí bằng kỹ thuật, khí hậu, địa hình, nhân khẩu học và
Thật vậy, dữ liệu tích luỹ trình bày tính cho phép thích hợp để tạo những dự án thích hợp đang xem xét tình hình kinh tế hiện tại và sự họat động dự định.
 Phạm vi chi phí báo cáo được minh họa bằng dữ liệu được trích dẫn trong hai tài liệu tham khảo. Một là tài liệu CalRecovery System 1989 trình bài chi phí vốn ước lượng, chi phí hoạt động và chi phí bảo dưỡng là 400 TPD * MSW ( Tất cả chi phí được đưa ra trong TPD được tính theo tấn U.S mỗi ngày. Nhân TPD với 0.907 để đạt được tấn (theo hệ mét) mỗi ngày). Một tài liệu khác nưã là Eastern Research Group and CalRecovery System , Inc 1991 trích dẫn dữ liệu về vốn và chi phí O và M cho tám thiết bị chất thải trong thơì gian tài liệu tham khảo này đưọc tiến hành tại Mỹ. Khả năng được thiết kế được xếp loại từ 10 cho tơí 800 TPD. Theo đồng dollars năm 1998 thì chi phí vốn cho tám thiết bị được dưa ra là khoảng 30.000 cho tới 75.000 USD cho mỗi TPD. Vì thế uớc tính cho 400 TPD là từ 49.000 cho tới 156.000 USD. Chi phi hàng năm của O và M là từ 150.000 cho tơí 6.000.000 USD ( Theo tài liệu CalRecovery System , Inc 1991; Eastern Research Group and CalRecovery System , Inc 1991) Bảng tổng kết chi phí cho MSW được trình bày trong Bảng 12.3
 Việc quy định chi phí thật sự cho chất thải sân bãi là rất khó khăn vì thông tin kiêm tốn về kinh tế. Một vài chi phí được công bố cho sự hoạt động và bảo dưỡng xấp xỉ ít nhất là từ 4 USD và nhiều nhất là từ 56 USD cho mỗi tấn chất thải.. Nguồn vốn phụ cấp cho thiết bị chất thải sân bãi trong West Coast là chi phí điển hình từ 15 cho tới 30 USD cho mỗi tấn.
 Factors Underlying Uncertainty of Reported Costs (Nhân tố không chắc chắn bên cạnh chi phí đã được mô tả ) Những nhân tố được tính toán cho phạm vi rộng trong bảng miêu tả là những nhân tố quan trọng đối với việc không chắc chắn trong việc đánh giá tình hình kinh tế. Vì thế những chi phí này nên đáp ứng như một sự kiềm chế cho cách sử dụng các thông tin đua ra để làm một quyết định. Ví dụ như sự đa dạng về kích thước, các loại máy móc kỷ thuật và trạng thái nguyên thuỷ của các loại máy thêu mướn này và sự sự không thích hợp khi thông báo chi phí dựa vào tỷ gía đồng dollars bất biến đối vơí phạmvi rộng về đồng vốn và O và M
 Một nhân tố quan trọng của tính không chắc chắn này là sự khó khăn trong việc tạo sự so sánh tình hình kinh tế liên quan một cách chính xác để các thiết bị hoạt động và các kỹ thuật phân trộn. Tính khó khăn này có thể được phác hoạ để gom góp thành bảng kế hoạch vượt trội của các nhân tố mà không những là duy nhất đối vơí mỗi một thiết bị mà còn quyết định tính kinh tế của chính nó. Sự góp nhặt bao gồm moị yếu tố từ khí hậu, nhân lựcvà trang thiết bị cho tới chi phí thực hành. Trong một vài trường hợp thì việc xem xét những chi phí thực hành liên quan đến dự án phân trộn không được phân biệt ra khỏi sự tồn tại hoạt động của chất thải rắn. Chi phí thực hành như được cung cấp cho sự hoạt động của chất thải sân bãi có thể nắm giữ một phần chi phí chia đều cho việc sử dụng và chi phí của các mẫu như đất đai, nhân công và trang thiết bị với sự hoạt động đang diễn ra một cách liên tục khác Trong trường hợp này, chi phí đóng góp cho phân trộn phản ảnh lãi phát sinh được ước tính. Tuy nhiên có một sự phức tạp khác là không có thể hiện chi phí cho sự tồn tại một cách chắc chắn và sự xác định một cách chính xác về họat động và chi phí bảo dưỡng. Nhiều sụ trở ngại để đạt được một sự tiên đoán chính xác về chi phí có thể được tính toán bằng việc xác định các trang thiết bị của một dự án một cách rõ ràng và việc cho phép phân tích chi phí một cách chi tiết.
 Personnel and Training ( Nhân lực và đào tạo) Sự đánhgiá phi tổn về nhân lực và đào tạo dựa trên kích thước của bộ máy chính. Các trang thiết bị chính cho sự hoạt động của phân trộn khác với kích thước các thiết bị liên quan và khác với trang thiết bị đầu cột. Số lượng nhân công tham gia làm việc bán thời gian và toàn thơì gian hoàn toàn khác nhau ( 30 người) Sự đòi hỏi về nhân lực cho việc di dơì thiết bị tái sinh hàng năm và sự không cân đối để thiết lập số lượng vật liệu đưa vào trong qúa trình sản xuất. Vì thề sự phân loại bằng máy móc nhằm làm giãm nhu cầu cho maý phân loại là cần thiết.
 Impact of Technology on Costs ( Tác động của kỹ thuật đối vơí chi phí) Trong phần này thì phần được nhấn mạnh là tác động bên ngoài bởi loại kỹ thuật được thuê sử dụng, bơỉ chế độ thơì gian cư trú, bởi tình trạng dư thừ của các thiết bị và việc tận dụng kế hoạch.
 Các cưả sổ của khối phân compôt thường được bảo vệ trong một cấu trúc trong suốt quá trình hoạt động và trong những giai đoạn ban đầu. Việc tiến hành này rất phổ biến trong những vùng có đặc tính khí hậu thay đổi đặc biệt là trong mùa đông và trong những vùng phải chịu lượng mưa nặng.
 Hầu hết hệ thống ống mạch duy trì trong lò phản ứng cho giai đoạn tích cực của tiến trình phân trộn. Nhân tố căn bản là gấp đôi cụ thể là để duy trì các điều kiệnở những mức độ thuận lơị nhất trong suốt giai đoạn tích cực vì thế làm tăng thêm khả năng hoạt động của vi khuẩn và làm giãm giai đoạn một cách tương ứng. Việc đạt được hoạch định để mang lơị ích kinh tế trong qúa trình làm ngắn lại giai đoạn tích cực là làm giãm đi thơì gian trú ngụ trong lò phản ứng và vì thế làm tăng công suất của tiến trình phân trộn.
 Phương pháp để gia tốc giai đoạn tích cực đã làm tăng tính chất tinh tế của lò phản ứng. Ty nhiên sự gia tốc này là có thể thực hiện được bơỉ sự làm phức tạp cơ bản của lò phản ứng là được giới hạn bởi việc phát sinh tính chất nguỵ trang của vi trùng. Rõ ràng là lò phản ứng càng mắc tiền thì sự gia tăng về mức độ đòi hỏi càng lớn. Nhu cầu này thường không được đánh gía đúng mứ mà có khuynh hướng dẫn đến một kết qủa tai hại. Loại lò phản ứng có rãnh là một sự thỏa hiệp tốt nhất cùng vơí sự chú ý cả về tính chất kinh tế và hiệu qủa của tiến trình.
 Thật khó khăn để tạo sự so sánh giữa tác động cuả kỹ thuật thông gíó và kỹ thuật ống mạch.Ở mức tối thiểu, người ta cho rằng việc tạo sự cạnh tranh nhuư thế mà mỗi sản phẩm của cả hai al2 cạnh tranh vơí nhau. Tất cả tiến trình khác thay đổi để trở thành như nhau, đặc biệt là giai đoạn tích cực thì chi phí vốn của cấu trúc và trang thiết bị cho giai đoạn này là sẽ cao hơn đối với hệ thống mạch hơn lá đối vơí hệ thống cưaả sổ thông thường. Tuy nhiên theo lý thuyết bất lợi này được cân bằng bởi chi phí hoạt động thấp hơn. Việc đề xuất ống mạnh cảnh báo rằng những hệ thống của họ có tiềm năng làm hạ thấp chi phí hoạt động bởi ưu điểm của việc gia tăng sự tự động hóa. Nhiều tiến trình sự cấu hình ống mạnh cũng đòi hỏi ít khu vực đất đai cho mỗi đơn vị số lượng nguyên vật liệu đưa vào một qúa trình hoạt động. Một điểm quan trọng mà ít được quan tâm về tính chất tinh tế của hệ thống, sự cẩn trọng yêu cầu tầng đệm rộng lớn nếu được cung cấp.
 Sự nhất trí hiện nay là bởi vì những yếu tố được quan tâm, nhân công cao và chi phí đất đai có khuynh hướng được ưa thích hơnlà sự lựa chọn về đấ đai trong hệ thống ống mạnh tĩnh và nhân lực. Ngược lại chi phí nhân công và chi phí đất đai thấp có khuynh hướng được ủng hộ đối với sự lựa chọn cuả phân trộn
 Feedstock Sự khác biệt nguyên vật liệu cung cấp cho máy chế biến cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đối vơí chi phí phân trộn MSW, đặc biệt nếu nguyên vật liệu không thích hợp cũng được đưa vào bơỉ sự phân loại từ nguồn. Hầu như một vài nguyên vật liệu cung cấp cho máy chế biến rất phong phú, chúng có trong nguồn giấy và chất thải sân bãi sẽ đòi hỏi sự nghiền vụn nhằm sản xuất ra sản phẩm rác thải có khả năng tiêu thụ được trong một khoảng thơì gian hợp lý. Tuy nhiên nếu nguyên vật liệu cung cấp cho máy chế biến là kính, kim loại và nhựa đã được chuyển đến từ luồng chất thải qua sự phân loại từ nguồn, một vài chi phí của khâu chuẩn bị nên bỏ qua bởi việc loại trừ nhân công và trang thiết bị đòi hỏi cho tiến trình tái sinh. Việc loại trừ rác thải kính, nhựa và kim loại từ nguyên vật liệu cung cấp cho máy chế biến nên giãm chi phí cuả phân trộn từ 10 đến 20 %. Ảnh hưởng liên quan ít dẫn tới sự loại trừ của tổng thu nhập bù đắp từ việc tái sinh. Mức độ của việc vận dụng dự án cũng có ảnh hưởng đến chi phí của pân trộn. Số nguyên vật liệu đưa vào một tiến trình cho mỗi đơn vị chi phí về vốn gia tăng được đánh dấu như sự tâạn dụng trang thiết bị di chuyển từ 40 giờ mỗi tuần cho tới hoạt động gần như liên tục. Tuy nhiên việc đề phòng sự phát triển trong luồng chât thải bởi tiếng ồn hoặc vì những lý do khác, một vài thiết bị được thiết kế là 8 giờ mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần. Một sự vận dụng kế hoạch liên quan thuận lợi nhất là mức độ tình trạng dư thừa của trang thiết bị. Nói chung chức năng của thiết bị trong tiến trình và chi phí khi tiến trình haọt động một cách liên tục ngoại trừ sự gián đoạn hoạt động để sưã chưã hoặc bảo quản.
 Income Nằm trong số các nguồn có giá trị của thu nhập là khoản tài trợ, hệ thống thuế, trợ cấp của nhà nước, toàn bộ sự tập hợp tái sinh và bán sản phẩm phân trộn. Trong một vài sự chờ đợi thì hệ thống thuế và trợ cấp của nhà nước nên được giải thích như là sự diễn đạt các lơị ích về tiền tệ.
 Sự góp nhặt tái sinh là một phần của tiêén trình chuâản bị trong hầu hết thiết bị phân trộn MSW là từ “ không tính giá” cho tới 5 USD /yd³ ( $ 6.6/m³ ) tại một địa điểm. Phân trộn không bán có thể sử dụng hưũ ích như sự giãm cỏ dại, sự cải tiến đầt đai khó trồng trọt hoặc phủ đầy đất trống.
 Avoided Cost Một cách sử dụng thông thường để đo lường chi phí ngăn ngừa thông qua cách sử dụng phân trộn là chi phí để bố trí chất thải bằng mãnh đất trống. Trên cơ bản đó chi phí ngăn ngừa là sự tương đương của chi phí tài trợ cho vùng đất trống cùng vơí sự góp nhặt và chi phí chuyên chở. Rõ ràng mức độ của sự tương đương là phạm vi mà chi phí tài trợ trong việc phản ảnh bắt buộc chi phí thật sự của đất trống bao gồm sự trả dần dần chi phí tương lai cho sự phát triển của MSW.
 Tuy hầu hết phân trộn MSW không thể tránh khỏi việc loại trừ một vài phần còn lại mà bắt buộc phân loại bởi đất trống, chi phí này phải được xem xét lại.
Mixed MSW Composting Hỗn hợp phân trộn MSW
 Trong phần này nội dung chính trở nên rõ ràng hơn bằng viêc phân tích chi phí của hỗn hợp phân trộn MSW. Thêm vào yếu tố kích thước và kỹ thuật thì một số các yếu tố phụ thuộc khác quyết định đến hệ thống chi phí. Tính chất của các yếu tố phụ thuộc và mức độ sự ảnh hưởng của chúng phụ thuộc vào loaại hệ thống có lưạ chọn là chi phí tại địa điểm chuẩn bị, chi phí đất đai, khí hậu, sự quy định bụi và mùi, sự giới hạn chất thải chứa đựng và giờ hoạt động, và bao gồm lượng tiến trình dư thừa. Tính đa dạng cuả các yếu tố này và tính đa dạng của chúng tạo nên một sự ước tính đơn giản về chi phí là cực kỳ khó khăn.
 Tác giả của cẩm nang EPA đã đưa ra kế hoạch vấn đề về kế hoạch chi phí bằng việc xem xét hai điều kiện mà chủ yếu dựa vào những hệ thống thông gío nhưng khác nhau hoàn toàn như kích thước mà kích thước là 100 tấn/d trong khi kích thước của các thiết bị khác là 1000 tấn/d. Các thiết bị nhỏ hơn khác dòi hỏi một hệ thống mà sự bắt buộc thoát hơi là một phương pháp thoát khí. Việc đảo thông qua việc sử dụng những máy đảo là một phương pháp thoát hơi với trang thiết bị lớn hơn. Cả hai hệ thống của tiếntrình chuẩn bị này thì giai doạn chuẩn bị xảy ra bên trong cấu trúc. Việc quản lý mùi tốn rất nhiều chi phí đối với các trang thiết bị nhỏ hơn bởi vì mức độ điều khiển cao hơn bởi vì vị trí tọa lạc nơi xây dựng. Hơn nữa trong cả hai trường hợp trên các nhà nghiên cứu cho rằng tất cả phân trộn có thể bán đựơc là một phần nhỏ của mạng lưới tổng thu nhập 2.50 USD/ tấn rác thải của phân compôt. Nên chú ý rằng tổng thu nhập từ việc bán rác thải sau khi trộn chỉ là một phần nhỏ so với chi phí sản xuất phân trộn.
 Cẩm nang EPA trình bày sự phân tích chi tiết về phí của hai hệ thống bằng ba bảng minh họa. Bảng 12.4 tổng hợp chi tiết được minh họa của ba bảng này. Theo như dữ liệu trong bảng 12.4 minh họa thì chi phì hàng ngày cuối cùng với thiết bị nhỏ hơn là 63 USD/tấn ( 57.3 USD/tấn) và 48 USD/tấn ( 43.6 USD/tấn) đối với thiết bị lớn hơn. Thông tin phụ được trình bày trong bảng Phụ lục 12.B
Yard Waste Composting
 Introduction Việc ước tính chi phí cơ bản của một dự án thiết bị rác thải dựa trên sự hoạt động đang thựa hiện này hoặc dựa trên tài liệu báo cáo là một bài toán khó. Những lý do thì tương tự với nhiệm vụ / sự cam kết của MSW tới chi phí mẫu trích ly từ khu vực rộng lớn để phản ánh sự đa dạng kích thước thiết bị, thiết kế và các điều kiện lệ thuộc. Thật vậy, theo tình hình chung thì điều kiện phân compôt tồn tại bao gồm các thiết bị rất đơn giản, một vài thiết bị phức tạp và toàn bộ trang thiết bị trung gian.
 Vẽ tự nhiên và tính chất bên ngoài của các khe hở giữa thiết bị phức tạp và thiết bị rất đơn giản, và thiết bị tối thiểu
 
scroll-topTop