Ứng dụng Gom Rác GRAC

Quy hoạch khai thác bền vững và bảo vệ tài nguyên nước mặt tỉnh BR – VT

daibangxanh

Well-Known Member
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Quy hoạch khai thác bền vững và bảo vệ tài nguyên nước mặt tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

CHƯƠNG I
HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI VÙNG QUY HOẠCH
------o0o------

1.1. TỔNG QUAN VỀ VÙNG QUY HOẠCH
1.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên vùng quy hoạch

Đề án “Quy hoạch khai thác bền vững và bảo vệ tài nguyên nước mặt tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” được giới hạn trên toàn bộ phần đất liền và biển ven bờ thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Khu vực quy hoạch này chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (chỉ trừ huyện Côn Đảo) với tổng diện tích tự nhiên khoảng 1.900 km2, dân số hiện tại khoảng 890.000 người, tỉ lệ dân số đô thị hóa khoảng 45%. Khu vực quy hoạch có 29,26 km địa giới tiếp giáp với tỉnh Bình Thuận ở phía Đông Bắc, 116,51 km địa giới tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc; 16,33 km tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây và 105,31 km bờ biển ở phía Nam.
Khu vực quy hoạch có 07 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Châu Đức, Tân Thành. Khu vực này được thiên nhiên ưu đãi về vị trí địa lý, cảnh quan, khí hậu và đất đai; có thành phố du lịch nổi tiếng Vũng Tàu với nhiề bãi biển đẹp, cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử - văn hóa. Bà Rịa – Vũng Tàu được đánh giá là vùng có tài nguyên đa dạng và phong phú, có điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp theo hướng tập trung, có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh.

Về mặt địa hình, khu vực quy hoạch có địa hình dạng trung du thuộc phần kéo dài của bậc thềm cao nguyên Di Linh ra đến biển Đông. Độ cao địa hình giảm dần từ phía Đông Bắc (150 – 100m) về phía Nam và Tây Nam (50 – 30 – 10 – 1m) ra đến biển Đông. Trong nền địa hình chung nói trên, ở phía Đông Bắc đôi chỗ có các đồi đất đỏ với độ cao 185 – 265m, ở phía Tây Nam và phía Nam nổi lên một số dãy núi đá cao như núi Mây Tào (Xuyên Mộc) cao 704m, núi Châu Viên (Long Đất) cao 327m, núi Bao Quan cao 504m, núi Tóc Tiên cao 467m, và một số núi ở khu vực Bà Rịa như núi Thị Vải, núi Ông Trịnh, núi Dinh ...
Đất đai thổ nhưỡng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gồm 09 nhóm chính, trong đó đất đỏ vàng chiếm tỷ lệ lớn nhất (40,98%), kế đến là đất xám (15,52%), đất cát (10,79%), đất phèn (9,7%), đất đen (5,55%), đất dốc tụ (4,43%), đất phù sa (4,08%), đất xói mòn trơ sỏi đá (3,53%) và đất mặn (0,27%). Diện tích đất thích hợp cho phát triển nông – lâm nghiệp khoảng 89.000 ha (45% diện tích tự nhiên). Đất đai ở Bà Rịa – Vũng Tàu nhìn chung có độ dốc thấp thuận lợi cho cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển cây lâu năm.

Khu vực quy hoạch nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, tổng lượng bức xạ cao và ổn định. nhiệt độ bình quân cao đều quanh năm khoảng 270C, số giờ nắng bình quân hàng năm có khoảng 2.300 – 2.800 giờ. Lượng mưa trung bình dao động từ 1.356 mm/năm ở khu vực ven biển đến 2.000 mm/năm ở vùng đồi cao phía Bắc. Lượng mưa phân bố không đều trong năm với 90% lượng mưa tập trung trong 6 tháng mùa mưa, trong khi đó mùa khô có mưa rất ít, thậm chí các tháng 1, 2, 3 hầu như không có mưa, điều này đã gây không ít khó khăn cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.
1.1.2. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Về kinh tế, trong vòng một thập niên trở lại đây, GDP của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu liên tục tăng với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước, bình quân giai đoạn 1996 – 2000 tăng 15,4% giai đoạn 2001 – 2005 tăng 15,7%. GDP của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2005 đạt 49.723 tỉ đồng (theo giá hiện hành) và là tỉnh có GDP bình quân đầu người cao nhất cả nước, tuy nhiên GDP của tỉnh cao một phần là do ảnh hưởng của ngành khai thác dầu khí. Cơ cấu kinh tế phân bố theo hướng tích cực, tỉ trọng khu vực công nghiệp chiếm đến 85,69%, kế đến là dịch vụ chiếm 11,42%, khu vực nông – lâm chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ là 2,89%. Tuy nhiên, nếu không tính dầu khí thì tỉ lệ trên có sự khác biệt lớn: công nghiệp chỉ chiếm 27,2%, nông nghiệp chiếm 23,99% và dịch vụ chiếm đến 48,81%.

Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao trong những năm gần đây (khoảng 19,56%/năm), đạt giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 là 63.514 tỉ đồng (theo giá hiện hành). Đến nay nền công nghiệp của Bà Rịa – Vũng Tàu đã có cơ cấu tương đối đầy đủ với nhiều ngành công nghiệp quan trọng như: năng lượng, luyện kim, hóa chất, dầu khí, vật liệu xây dựng, chế biến thủy hải sản ... Nguyên nhân chủ yếu của tăng trưởng công nghiệp ở BR – VT là do có nhiều cơ sở công nghiệp mũi nhọn của Trung ương đóng trên địa bàn (dầu khí, năng lượng, hóa chất) nên được tập trung đầu tư mạnh về vốn và nhân lực đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng công nghiệp tăng cao: tỷ trọng công nghiệp Trung ương chiếm chủ yếu với 95,7% giá trị sản xuất công nghiệp, trong khi đó công nghiệp địa phương chỉ chiếm 4,3% giá trị sản xuất công nghiệp.

Tính đến tháng 06/2006, trong vùng quy hoạch đã có 06 khu công nghiệp (KCN) chính thức đi vào hoạt động (KCN Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A2, Mỹ Xuân B1, Phú Mỹ I, Cái Mép, Đông Xuyên) với tổng diện tích 2.590 ha., thu hút 53 dự án đầu tư. Ngoài ra còn có 136 cơ sở công nghiệp nằm phân tán ở các huyện, trong đó phổ biến nhất là các cơ sở chế biến thủy hải sản thuộc phạm vi thành phố Vũng tàu và các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc.
Ngành nông nghiệp trong những năm qua đã phát triển khá nhanh và toàn diện, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế địa phương của toàn tỉnh. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2003 khoảng 1.420 tỷ đồng (theo giá hiện hành), trong đó trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng chính đến 73%, chăn nuôi chiếm 19% và dịch vụ chiếm 8%. Diện tích đất nông nghiệp có khoảng 114.720 ha, chiếm 58% diện tích đất tự nhiên. Cơ cấu cây trồng có sự thay đổi đáng kể, diện tích cây hàng năm giảm và cây lâu năm tăng, đặc biệt là diện tích cây tiêu tăng từ 749 ha (năm 1996) lến đến 8.054 ha (năm 2002).

Ngành dịch vụ của tỉnh BR – VT cũng phát triển đáng kể trong những năm qua, trong đó nổi bật nhất là dịch vụ du lịch và dịch vụ cảng. Ngành du lịch của tỉnh BR – VT có nhiều lợi thế với các danh lam thắng cảnh đẹp, bờ biển dài và sạch, nắng ấm quanh năm. Hàng năm BR – VT thu hút một lượng lớn khách du lịch đến tham quan và nghỉ ngơi, đây chính là điều kiện tốt để phát triển các ngành nghề dịch vụ phục vụ nhu cầu của du khách như khách sạn, nhà hàng, giải trí ... Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1996 – 2000 đạt 14,46%/năm, năm 2002 là 15,8%. Giá trị sản xuất ngành dịch vụ du lịch đạt 2.185 tỉ đồng năm 2002.
 

Đính kèm

Top