Ứng dụng Gom Rác GRAC

Thành phố và phân loại thành phố

daibangxanh

Well-Known Member
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Thành phố chính yếu được dùng để chỉ một khu định cư đô thị có dân số lớn. Tuy nhiên, thành phố cũng có thể được dùng để chỉ một khu vực có định chế pháp lý, hành chánh đặc biệt hoặc định chế lịch sử.

Thường thì thành phố có những khu nhà ở, khu công nghiệp, và khu thương mại cùng với những trách nhiệm quản lý có thể có liên quan đến một vùng rộng hơn. Phần nhiều diện tích của một thành phố là nhà ở dựa vào cơ sở hạ tầng như là đường sá và hệ thống giao thông công cộng.

Thành phố là khu đô thị khác với thị xã, thị trấn, hay làng về cỡ, mật độ dân số, độ quan trọng. Thể chế thành phố được xác định theo quyết định của Chính phủ dựa trên một số tiêu chí nhất định như kích thước, dân số, tình trạng cơ sở hạ tầng hay mức độ quan trọng mà xếp loại đô thị loại mấy.

Tại Hoa Kỳ, "thành phố" chính yếu chỉ là một thuật từ pháp lý để chỉ một khu định cư có mức độ tự quản cao hơn là có ý nghĩa chỉ toàn bộ một khu vực định cư rộng lớn (vùng đô thị). Các khu định cư sẽ trở thành thành phố hay thị trấn sau khi cư dân trong khu định cư này bỏ phiếu để tổ chức khu tự quản riêng cho mình mà theo tiếng Anh gọi là "incorporated" hay nghĩa tiếng Việt là "hợp nhất". Những khu định cư nào chưa được "hợp nhất" thường được gọi là khu chưa hợp nhất. Ngoài ra, để tiện cho việc thống kê, Cục điều tra dân số Hoa Kỳ có thể liệt kê các khu định cư chưa hợp nhất này thành các khu gọi là các nơi ấn định cho điều tra dân số.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Thành_phố


Đô thị loại 1

Đô thị loại 1, trong cách phân loại đô thị ở Việt Nam, là những thành phố giữ vai trò trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh. Tiêu chí xác định thành phố là đô thị loại 1, gồm:

1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước

2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 85% trở lên

3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh

4. Quy mô dân số nội đô từ 50 vạn người trở lên

5. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên

Hiện ở Việt Nam có 7 thành phố được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận đô thị loại 1, đó là: Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang và Cần Thơ .

Trong đó Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ là ba thành phố trực thuộc trung ương và là những trung tâm quốc gia. Hải Phòng là trung tâm của vùng duyên hải Bắc Bộ, Đà Nẵng là trung tâm của miền Trung, Cần Thơ là trung tâm của vùng Tây Nam Bộ. Còn Huế, Vinh, Đà Lạt và Nha Trang tuy là đô thị loại 1 nhưng hiện vẫn là thành phố trực thuộc tỉnh và là các trung tâm cấp vùng. Vinh và Huế là hai trung tâm của Bắc Trung Bộ, Đà Lạt là trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, khoa học của khu vực Tây Nguyên, Nha Trang là trung tâm của Duyên hải Nam Trung Bộ.

Đô thị loại 2

Đô thị loại 2 phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước

2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở nội đô từ 80% trở lên

3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh

4. Quy mô dân số nội đô từ 25 vạn người trở lên

5. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 10.000 người/km2 trở lên.

Hiện nay các thành phố là đô thị loại 2 gồm: Biên Hòa; Quy Nhơn; Nam Định; Hạ Long; Vũng Tàu; Buôn Ma Thuột; Thái Nguyên; Việt Trì; Hải Dương; Thanh Hóa; Mỹ Tho; Long Xuyên; Pleiku; Phan Thiết;

Đô thị loại 3

Đô thị loại 3 phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động nội đô từ 80% trở lên;
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
4. Quy mô dân số nội đô từ 10 - 35 vạn người trở lên và/hoặc mật độ dân số bình quân từ 10.000 người/km² trở lên.
 
Top