Ứng dụng Gom Rác GRAC
FACEBOOK GRAC TẶNG ĐỒ VÀ PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN

Thông tin về động vật trong sách đỏ Việt Nam

moitruong08

Sự trở lại của voi Mamut
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Trước tiên tui đưa thông tin về dòng họ khỉ và vượn mà tui sưu tầm ở một trang wed khác.
1 . KHỈ ĐUÔI LỢN


Tên Việt Nam: Khỉ đuôi lợn
Tên Latin: Macaca nemestrina
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Cỡ lớn như khỉ vàng. Dài thân: 470 - 585mm, trọng lượng: 3, 5 - 9kg. Hai bên má lông dài, rậm màu hung sáng phủ gần kín tai tạo thành đĩa mặt ở đỉnh đầu lông màu xám đen tạo thành xoáy tỏa ra xung quanh gân giống cái mũ. Thân phủ lông màu nâu xám. Lông đuôi rất ngắn giống đuôi lợn.
Sinh học:
Khỉ đuôi lợn kiếm ăn chủ yếu trên mặt đất. Thức ăn là quả, hạt, chồi cây và sâu bọ, ưu thích các loại cỏ có vị chua chát. Sinh sản hầu như quanh năm không tập trung theo mùa. Tuổi sinh sản lúc 4 tuổi. Thời gian có chửa 162 - 186 ngày. Mỗi lứa đẻ một con.
Nơi sống và sinh thái:
Thường sống ở rừng già trên núi đá vôi, hoạt động kiếm ăn ban ngày cả ở thung lũng, rừng thưa trên núi đất gấn núi đá. Mùa đông trú ẩn trong các hốc đá, mùa hè trú ẩn trên vách đá hoặc cành cây. Sống đàn 10 - 12 con, có đàn 40 con. Đôi khi hoạt động riêng rẽ hoặc nhóm 4 - 5 con.
Phân bố:
Việt Nam: Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Thái, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thên - Huế, Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh.
Thế giới: Ấn Độ, (Assam), Mianma, Thái Lan, Trung Quốc (Vân Nam), Lào, Cămpuchia, Bocnêo, Xumatơra.
Giá trị:
Khỉ đuôi lợn có lợi về nhiều mặt như các loài khỉ khác. Có nơi chúng được nuôi để hái dứa.
Tình trạng:
Chúng rất dạn người nên thường bị săn bắn. Hiện nay số lượng khỉ đuôi lợn rất ít. Nhiều nơi chỉ còn lại ở một số vùng như: Sơn La chỉ còn ở Sông Mã, Cao Bằng chỉ còn ở Quảng Bạ. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắn, bẫy bắt. Nghiên cứu các chủng quần và số lượng của chúng ngoài thiên nhiên để có những biện pháp cụ thể hơn.

2. KHỈ MẶT ĐỎ


Tên Việt Nam: Khỉ mặt đỏ
Tên Latin: Macaca artoides
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm: Thú

Mô tả:
Thân to khoẻ. Dài thân: 485 - 635mm, dài đuôi: 37 - 38mm, dài bàn chân sau: 145 - 177. Trọng lượng 8 - 12kg. Mặt mầu đỏ thẫm có lông thưa thớt. Lưng lông dài rậm màu nâu đỏ hoạc nâu xám. Chân và đuôi có màu giống thân.
Sinh học:
Thức ăn là lá, quả cây và cả côn trùng, ốc sên giun đất... sinh sản gần như quanh năm, nhưng thường từ tháng 2 đến tháng 10. Mỗi lứa đẻ 1 con, con sơ sinh nặng 320 - 410g. Khỉ mặt đỏ đã được nuôi ở một số vùng cũng sinh sản tốt.
Nơi sống và sinh thái:
Sống trong rừng già, trên núi đá và núi đất, đôi khi gặp chúng kiếm ăn cả ở rừng thưa, nương rẫy. Sống thành đàn 10 - 30 con, con đực to khỏe làm đầu đàn. Hoạt động kiếm ăn ban ngày, di chuyển trên cây và cả trên mặt đất, ban đêm trú ẩn nghỉ ngơi trong hang đá, hốc đất hoặc trên các cây lớn trong rừng. Khi di chuyển trên mặt đất, khỉ mặt đỏ cũng dễ bị các loài thú ăn thịt cỡ lớn tấn công gây hại.
Phân bố:
Việt Nam: Hà Giang (Quảng Bạ), Cao Bằng (Trùng Khánh, Quảng Hòa), Lai Châu (Mường Tè, Tuần Giáo, Sình Hồ), Yên Bái (Văn Chấn), Sơn La (Sông Mã, Mai Sơn, Quỳnh Nhai, Mộc châu), Hòa Bình (Đà Bắc, Kim Bôi, Mai Châu), Thanh Hóa (Hồi Xuân, Như Xuân), Hà Tĩnh (Hương Khuê, Hương Sơn), Quảng Bình (Tuyên Hóa), Thừa Thiên Huế (đảo Hải Vân, Huế), Kontum (Sa Thầy), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Đắc Lắc (Easúp, Krông Nô, Đắc Min)...
Thế giới: Ấn Độ (Assam), Mianma, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Cămpuchia.
Giá trị:
Khỉ mặt đỏ là nguồn gen quý của rừng nhiệt đới. Giá trị kinh tế cung cấp da lông và dược liệu. Mặt khác nếu bảo cệ tốt chúng sẽ trở thành nguồn hàng xuất khẩu có Giá trị:
Tình trạng:
Nước ta số lượng khỉ mặt đỏ không nhiều, nhưng những năm gần đây người ta săn bắn khá nhiều để bán cho các trạm dược liệu, bẫy bắt để buôn bán qua biên giới, nên số lượng ngày càng giảm. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắn, bắt bẫy, buôn bán khỉ mặt đò. Tổ chức nuôi bán tự nhiên ở vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.

3. VƯỢN TAY TRẮNG


Tên Việt Nam: Vượn tay trắng
Tên Latin: Hylobates lar
Họ: Vượn Hylobatidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm: Thú

Mô tả:
Thân hình giống như vượn đen. Khác là ở chỗ con đực có bàn chân, bàn tay trắng, xung quanh mặt viền lông trắng (hoặc vàng nhạt, vàng xanh), ở con cái, mình và chân tay vàng nhạt đều, xung quanh mặt trắng.
Sinh học:
Theo tài liệu nước ngoài cho thấy thức ăn của vượn tay trắng là quả, lá nõn cây. Mùa sinh sản không xác định. Hai năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ 1 con.
Nơi sống và sinh thái: sống trong rừng già trên núi cao. Khu vực cư trú hẹp và ít thay đổi.
Phân bố:
Việt Nam: Các tài liệu trước đây nói rằng có ở đảo Phú Quốc. Hiện nay còn chưa phát hiện được khu vực cư trú của chúng.
Thế giới: Ấn Độ (Assam), Mianma, Thái Lan, Đông Dương và một số đảo khác.
Giá trị: Vốn gen quý và rất hiếm. Sách đỏ thế giới xếp chúng vào bậc E.
Tình trạng:
Hiện trạng của vượn tay trắng ở nước ta chưa xác định được. Chúng đang đứng trước nguy cơ bị biến mất. Mức độ đe dọa: bậc E.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắn vượn ở đảo Phú Quốc. Tích cực điều tra tìm kiếm loài vượn này đưa về nuôi ở vườn thú và các vườn quốc gia

4. VƯỢN ĐEN BẠC MÁ


Tên Việt Nam: Vượn đen bạc má
Tên Latin: Hylobates concolor leucogienis
Họ: Vượn Hylobatidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm: Thú

Mô tả:
Thân hình giống vượn đen tuyền. Dài thân: 482 - 625mm, dài bàn chân sau: 135 - 160mm. Con đực hoàn toàn đen, hai má lông màu trắng nối nhau bằng vệt trắng dưới cằm. Con cái lông màu vàng sẫm, lông quanh mặt tủa ngang, đỉnh đầu mầu xám hoặc nâu đen. Vượn con, cả đực và cái đều có màu vàng nhạt.
Sinh học:
Kiếm ăn trên cây cao. Thức ăn là quả, hạt, lá, chồi cây, côn trùng, trứng chim, chim non trong tổ. Sinh sản vào lúc 8 - 9 tuổi. Vượn cái có chu kỳ động dục 1 tháng 1 lần. Thời gian có chửa 200 - 214 ngày. Mỗi năm đẻ 1 lứa, hoặc 3 năm đẻ 2 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con.
Nơi sống và sinh thái:
Sống trong rừng già trên đỉnh núi cao, thường là núi đá. Sống đàn 3 - 7 con như trong một gia đình. Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào hai buổi sáng và chiều, di chuyển nhẹ nhàng, nhanh nhẹn trên cây, ít khi xuống mặt đất.
Phân bố:
Việt Nam: Lai châu (Mường Lay, Mường Tè), Sơn La (Sông Mã), Hòa Bình (Chi Nê), Thanh Hóa (Hồi Xuân), Nghệ An (Qùy Châu).
Thế giới: Lào.
Giá trị:
Phân loài đặc hữu của hai nước Việt Nam, Lào. Cũng có giá trị khoa học và kinh tế như như vượn đen tuyền.
Tình trạng:
Vượn đen má trắng có vùng phân bố hạn chế, số lượng ít ở nước ta những năm gần đây nhân dân săn bắn khá nhiều, có tới vài trăm con một năm. Hiện nay chỉ còn vài trăm con ở một số khu vực: Mường Lay, Mường Tè, Sông Mã. Mức độ đe dọa: bậc E.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắn vượn nói chung, vượn đen má trắng má nói riêng. Bảo vệ các khu rừng đang còn vượn đen má trắng sinh sống.

5. KHỈ MỐC


Tên Việt Nam: Khỉ mốc
Tên Latin: Macaca assamesis
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Bộ lông từ mầu vàng xám nhạt đến nâu thẫm. Vùng đầu, tay, vai sáng hơn phần sau chân và đuôi. Xung quanh cằm màu nâu sáng, dưới mắt thẫm hơn. Diềm bên má thẫm và hướng về phía sau kéo đến tai. Bờ sau đít có lông (trụi ở khỉ vàng), vùng mông màu xám nhạt. Lông đuôi dài, cụp xuống.
Sinh học:
Khỉ mốc chủ yếu ăn thực vật, thỉnh thoảng ăn côn trùng cánh cứng hoặc ấu trùng. Sinh sản quanh năm. Đẻ 1 con, thường gặp khỉ con vào tháng 4, 5, 7, 8 và 10. Trọng lượng sơ sinh 300 - 500g. Khỉ con có màu lông giống khỉ mẹ. Khỉ mẹ bảo vệ con rất tốt.
Nơi sống và sinh thái:
Sống trong rừng cây cao trên núi đá và núi đất. Trú ẩn trong hốc dưới mỏm đá, hoặc náu mình trong các lùm cây rậm rạp. Sống thành đàn 15 - 20 con, do một đực già làm đầu đàn chỉ huy canh gác khi đàn kiếm ăn. Có thể sống chung với khỉ vàng, voọc đen.
Phân bố:
Việt Nam: Bắc Thái, Lạng Sơn, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Quảng Ninh, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Thế giới: Nepan, Ấn Độ (Assam, Bhutan, Sikkim), bắc Mianma, Trung Quốc (Vân Nam), Thái Lan.
Giá trị: Khỉ mốc có giá trị kinh tế và y học: lấy thịt, xương nấu cao, mật làm thuốc.
Tình trạng:
Khỉ mốc ngoài thiên nhiên có số lượng thứ hai sau khỉ vàng. Trước đây chúng là đối tượng xuất khẩu. Trong những năm 60, 70 về trước hàng năm có 10 vạn con bị săn bắn. Nạn săn bắn quá mức, phá rừng bừa bãi nên số lượng khỉ mốc đã giảm rất nhiều. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắn, bẫy bắt. Nghiên cứu các chủng quần và số lượng của chúng ngoài thiên nhiên để có những biện pháp cụ thể hơn


bữa nào rảnh tui tìm tiếp thông tin của các loài voọc
nếu thấy thông tin của tui bổ ích thì "thank" cho tui một cái để còn động lực kiếm tiếp pót cho bà con xem
 
Sửa lần cuối:

moitruong08

Sự trở lại của voi Mamut
#2
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Tiếp theo là dòng họ nhà Voọc nè

6. VOỌC XÁM


Tên Việt Nam: Vọoc xám
Tên Latin: Trachypithecus phayrei crepusculus
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Bộ lông mầu xám tro. Trên đầu có mào lông. Da bao quanh mắt có màu xanh. Lông ở vùng lưng thẫm hơn ở vùng bụng. Bên hông có các lông dài, đầu lông có ánh bạc. Đuôi dài hơn thân, lông rất dài.
Sinh học:
Voọc xám sinh sàn quanh năm. Đã gặp voọc cái có chửa vào tháng 3 và tháng 7. Gặp voọc mẹ mang con trên ngực vào các tháng 4, 6, 10, 12. Mổi lứa để 1 con, con non mới đẻ mầu vàng nhạt.
Nơi sống và sinh thái:
Sống ở những vùng rừng cây cao trên núi đá vôi, không sống trên rừng hỗn giao tre nứa. Có thể gặp chúng kiếm ăn ở vùng đồi cây bụi gần rừng. Thường ngủ trên các vách núi đá vôi dựng đứng hoặc trên tán cây cao rậm kín gió. Voọc xám sống chung với khỉ mốc, khỉ vàng nhưng không cạch tranh về thức ăn. Kẻ thù tự nhiên là các loài thú ăn thịt cỡ lớn.
Phân bố:
Việt Nam: Yên Bái (Trấn Yên, Nghĩa Lộ), Lai Châu, Hà Tây, Hòa Bình Vĩnh Phú, (Thanh Sơn), Ninh Bình (Hoàng Long), Thanh Hóa (Lang Chánh, Hồi Xuân), Nghệ An (Quế Phong, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Tương Dương, Anh Sơn).
Thế giới: Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia.
Giá trị:
Loài phổ biến tương đối rộng ở Đông Nam Á nên ít có giá trị khoa học cao như các loài voọc khác. Bộ lông đẹp có giá trị thẩm mỹ.
Tình trạng:
Nước ta, voọc xám tuy phân bố rộng nhưng số lượng không nhiều, và ít nhất trong các loài voọc ở Cúc Phương vào những năm 60 số lần gặp voọc xám ít hơn số lần gặp voọc mông trắng. Đợt nghiên cứu của chúng tôi vào tháng 7 - 1989 không gặp voọc xám ở Cúc Phương, có thể chúng đã không còn. Hiện trạng về phân bố, và số lượng trong những năm gần đây chưa được nghiên cứu đầy đủ. Chúng là loài thú hiếm ở nước ta. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm tuyệt đối săn bắn voọc xám. Thành lập khu nuôi bán tự nhiên trong Vườn quốc gia Cúc Phương để giữ và nhân giống.

7. VOỌC ĐẦU TRẮNG


Tên Việt Nam: Vọoc đầu trắng
Tên Latin: Trachypithecus francoisi poliocephalus
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Cá thể trưởng thành, đầu và vai ở con đực lông màu trắng nhạt, ở con cái lông màu thẫm hơn. Vùng mông có vệt lông hình chữ V màu xám nhạt chạy qua gốc đuôi. Đuôi dài màu đen. Con non có mấu vàng, đầu và vai nhạt hơn, đuôi vàng thẫm.
Sinh học:
Thức ăn là lá, quả cây rừng: đa, huyết dụ, lá và quả cây độc: lá ngón, hạt mã tiền. Chưa có dẫn liệu về sinh sản của loài này. Nhưng đã gặp con cái mang thai vào tháng 7.
Nơi sống và sinh thái:
Sống ở rừng cây gỗ và dây leo mọc trên vách đá ở độ cao 100 - 150 m so với mặt biển. Sống thành đàn 10 - 20 con do con đực chỉ huy. Khi kiếm ăn, con chỉ huy chọn ngọn cây hay mỏm đá cao canh gác cho cả đàn. Gặp nguy hiểm nó phát tiếng kêu báo hiệu cho cả đàn tìm nơi ẩn nấp. Khi hết nguy hiểm chúng tập hợp thành đàn chuyển qua vùng khác an toàn hơn ở đảo Cát Bà, chúng sống chung với khỉ vàng.
Phân bố:
Việt Nam: Quảng Ninh (đảo Cát Chiên), Hải Phòng (đảo Cát Bà).
Thế giới: Không.
Giá trị:
Phân loài đặc hữu của Việt Nam. Nguồn gen quý và độc đáo, có giá trị khoa học và thẩm mỹ.
Tình trạng:
Đảo Cái Chiên không còn, chúng chỉ còn ở đảo Cát Bà, nhưng số lượng không nhiều, và đã được bảo vệ ở vườn quốc gia Cát Bà. Mức độ đe dọa: bậc E

8. VOỌC ĐEN MÁ TRẮNG


Tên Việt Nam: Vọoc đen má trắng
Tên Latin: Trachypithecus francoisi francoisi
Họ:Khỉ Cercopithecidae
Bộ:Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Bộ lông mầu đen tuyền. Trên má có vệt lông màu trắng kéo dài quá tai như voọc mông trắng. Đỉnh đầu có mào lông đen. Đuôi lông màu đen, không xù xì.
Sinh học:
Thức ăn chồi non, lá cây và rất ít quả cây rừng. Đẻ 1 con. Trọng lượng con sơ sinh 300 - 320g, non yếu, có bộ lông màu vàng. Đẻ xong, mẹ theo đàn đI kiếm ăn để lại con non trong hang nên thường bị thú ăn thịt, rắn gây hại. Con non được 3 - 4 tháng tuổi có thể ôm ngang ngực mẹ và đem theo khi kiếm ăn.
Nơi sống và sinh thái:
Sống trên những vách núi đá vôi ở độ cao không lớn có nhiều cây gỗ và dây leo. Mùa hè, đêm ngủ trên vách đá hoặc tán cây, mùa đông ngủ trong hang sâu kín gió. Cửa hang thường tránh hướng đông bắc. Sống đàn, con đực trưởng thành làm đầu đàn với 3 - 4 con cái và con non. Mỗi đàn có vùng lãnh thổ hoạt đông riêng không xâm phạm lẫn nhau, chúng có thể sống ôn hòa với các loài khỉ khác.
Phân bố:
Việt Nam: Tuyên Quang (Nà Hang, Chiêm Hóa), Cao Bằng (Ba Bể và các huyện phía tây bắc), Lạng Sơn, Quảng Ninh.
Thế giới: Trung Quốc (Quảng Tây).
Giá trị:
Có giá trị về khoa học vì chủng quần của chúng trên thế giới không lớn.
Tình trạng:
Trước đây có thể gặp chúng dễ dàng ở các vùng phụ cận hồ Ba Bể với số lượng đáng kể, đến nay đã trở nên hiếm. Năm 1989 có 3 con bị săn bắn ở hồ Ba Bể. Nghiên cứu khảo sát vào tháng 8/1989 chúng tôi quan sát được chúng ngoài thiên nhiên ở hồ Ba Bể. Nhưng nơi có voọc đen má trắng phân bố, rừng đã bị tàn phá không còn đủ điều kiện sống cho chúng. Mức độ đe dọa: bậc V.

9. VOỌC BẠC


Tên Việt Nam: Vọoc bạc
Tên Latin: Trachypithecus cristatus
Họ:Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm: Thú

Kích thước:
Chiều dài đầu - thân: 490 - 570mm. Chiều dài đuôi: 720 - 840mm. Trọng lượng: khoảng 6 - 8kg
Đặc điềm nhận dạng:
Ngoại hình có bộ lông màu sẫm. Chân lông màu trắng, trông giống như tóc bạc của người. Trên đầu có lông mọc dài thành chóp nhọn, mặt màu đen không có vòng tròn trắng, xung quanh khóe mắt, tay và chân đen. Voọc bạc lúc mới sinh có lông toàn thân màu vàng.
Phân bố:
Loài này sống chủ yếu ở phía Đông và miền Tây Thái Lan, miền Nam Lào, Việt Nam, Campuchia, đảo Xumatơra, đảo Java, đảo Bocnêo.
Đặc điểm sinh thái:
Sống trên cây cao,đôi khi cũng gặp ở rừng sình lầy. Thức ăn là lá non, hoa, quả cây rừng và sâu bọ. Kiếm ăn ban ngày. Sống theo bầy đàn, khoảng 10 - 15 con.
Tình trạng:
Hiện trạng của voọc bạc ở nước ta chưa xác định được. Chúng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Cần sớm có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ loài linh trưởng quí hiếm này.

10.VOỌC HÀ TĨNH


Tên Việt Nam: Vọoc hà tĩnh
Tên Latin: Trachypithecus francoisi hatinhensis
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Bộ lông mầu đen tuyền. Ngoài thiên nhiên khó phân biệt được với loài voọc đen má trắng. Chúng có vạch bên má màu trắng bẩn đi từ góc mép tới phía sau tai, nối với vạch bên gáy trắng tuyền đi từ trên gốc tai.
Sinh học: Chưa có dẫn liệu về loài phụ này.
Nơi sống và sinh thái: Chưa có dẫn liệu.
Phân bố:
Việt Nam: Hà Tĩnh, Quảng Bình (Tuyên Hóa, Lệ Thủy, Bố Trạch).
Thế giới: Không.
Giá trị:
Phân loài đặc hữu của Việt Nam. Theo Đào Văn Tiến, đây là loài phụ cổ nhất của loài voọc. Vì vậy chúng rất quý cho khoa học.
Tình trạng:
Chưa đủ dẫn liệu về hiện trạng của chúng ngoài thiên nhiên. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Khảo sát hiện trạng phân bố, số lượng, tình trạng chủng quần ngoài thiên nhiên. Trước mắt cấm săn bắn voọc đen ở Hà Tĩnh, Quảng Bình.

11. VOỌC MÔNG TRẮNG


Tên Việt Nam:Vọoc mông trắng
Tên Latin:Trachypithecus francoisi delacouri
Họ:Khỉ Cercopithecidae
Bộ:Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Bộ lông mầu đen. Có mào lông trên đỉnh đầu. Vệt lông trắng trên má rộng hơn ở Tr. f. Francoisi, kéo dài xuống tạn gốc đuôi. Đuôi dài hơn thân, lông đầy màu đen.
Sinh học:
Thường gặp con cái và con non vào khoảng tháng 5 - 7. Ngoài ra chưa có những tài liệu về sinh học của loài này.
Nơi sống và sinh thái:
Thường sống thành đàn 5 - 10 con do con đực già làm đầu đàn. Nơi sống ưa thích là vùng rừng thứ sinh cây gỗ cao 4 - 5m, mọc trên vách đá có nhang động. Mùa đông ngủ trong hang đá, mùa hè ngủ trên vách đá cửa hang. Không có sự cạnh tranh về nơi ăn và thức ăn vì phạm vi phân bố của mỗi đàn rộng. Kẻ thù tự nhiên là thú ăn thịt lớn: hổ, báo, hoa mai, báo gấm, chồn mác. Trong điều kiện nuôi dưỡng thường bị bệnh đuờng ruột và trướng bụng.
Phân bố:
Việt Nam: Yên Bái (Văn Chấn), Hòa Bình (Chi Nê), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hóa, Nghệ An (Quỳ Châu, Con Cuông), Hà Tĩnh (Hương Sơn).
Thế giới: Không.
Giá trị:
Phân loài đặc hữu Việt Nam nên có ý nghĩa khoa học lớn. Bộ lông đẹp có giá trị thẩm mỹ. Nhiều nhà động vật học quan tâm đến chúng.
Tình trạng:
Trước đây có thể gặp chúng dễ dàng ở những vùng kể trên, ngày nay số lượng đã giảm đi nhiều do săn bắn quá mức, khai thác rừng bừa bãi làm mất nơi sinh sống. Mức độ đe dọa: bậc E.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm tuyệt đối săn bắn voọc đen Tây Bắc kết hợp giải thích cho dân địa phương thấy giá trị của chúng để bảo vệ. Bảo vệ các khu rừng đang còn voọc sinh sống.

12. VOỌC MŨI HẾCH


Tên Việt Nam: Vọoc mũi hếch
Tên Latin: Rhinopithecus avunculus
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Bộ lông mầu nâu đen. Lông trên đầu và quanh mặt trắng nhạt. Không có mào lông trên đỉnh đầu. Vùng ngực, bụng, mặt trong chi trước và chi sau có mầu trắng mờ. Mảng lông trắng này kéo chùm ra phía bên ngoài khuỷu tay. Đuôi dài hơn thân, lông xù. Voọc con mới đẻ lông mầu vàng nhạt, khi lớn chuyển màu như voọc trưởng thành.
Sinh học:
Voọc mũi hếch có chửa vào tháng 11. Thường găp con cái mang con non trước ngực vào khoảng tháng 3 đến tháng 6.
Nơi sống và sinh thái:
Nơi sống của voọc mũi hếch có phần đa dạng hơn các loài voọc khác. Thường ở những vùng cây cao trên núi đất và thung lũng hơn rừng cây núi đá, vùng sườn đồi dưới chân núi có rừng hỗn giao cây gỗ và tre nứa. Nghỉ ngơi trú ẩn trên cây cao có tán rậm kể cả trong mùa đông giá lạnh. Đôi khi chúng kéo vít cành lá bên thành tổ làm chỗ nghỉ. Chỗ ở và nơi ăn của voọc mũi hếch khác với các loài khỉ khác nên không có sự cạnh tranh về thức ăn. Kẻ thù tự nhiên của chúng là thú ăn thịt lớn: hổ, báo gấm, báo hoa mai, beo, chồn mác...., chim ăn thịt lớn cũng gây cũng gây hại cho con non.
Phân bố:
Việt Nam: Vùng phân bố lịch sử của voọc mũi hếch: Tuyên Quang (Chiêm Hóa, Nà Hang), Cao Bằng (Ba Bể), Yên Bái (Trấn Yên), Bắc Thái (Chợ Đồn, Nà Rì, Bạch Thông, Định Hóa, ĐạI Từ), Quảng Ninh (Hoành Hồ).
Thế giới: Không.
Giá trị:
Loài đặc hữu của Việt Nam, được nhiều nhà động vật học quốc tế quan tâm.
Tình trạng:
Vào khoảng năm 60, 70 voọc mũi hếch tập trung số lượng nhiều ở Tuyên Quang, Bắc Thái. Đến năm 1988, 1989 còn một số đàn ở một vài nơi thuộc huyện Chợ Đồn và có thể còn ở Bắc Thái (Định Hóa, Bạch Thông).
Do săn bắn quá mức, phá rừng lấy gỗ, làm nương rẫy làm mất nơi sinh sống của voọc đã dẫn đến tình trạng có thể loài này bị tuyệt chủng. Mức độ đe dọa: bậc E.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm tuyệt đối săn bắn voọc mũi hếch. Sớm khởi thảo dự án bảo vệ và nuôi nhân giống voọc mũi hếch với sự giúp đỡ của WWF và LUCN Giáo dục nhân dân về ý nghĩa khoa học của loài này để tích cực tham gia bảo vệ.

P/S:tui sẽ kiếm tiếp các thông tin của các động vât khác như : rùa,rắn,voi,.............nếu các bạn quan tâm các vấn đề nay:012::012:
 
Sửa lần cuối:

moitruong08

Sự trở lại của voi Mamut
#3
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Cuối cùng dòng họ Chà vá

13. CHÀ VÁ CHÂN ĐEN


Tên Việt Nam: Chà vá chân đen
Tên Latin: Pygathrix nigripes
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú


CHÀ VÁ CHÂN ĐEN
Pygathrix nigripes Milne - Edwards, 1871
Semnopithecus nigripes Milne - Edwards, 1871
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Mô tả:
Mặt và cổ có khoang màu hạt dẻ. Trán, đỉnh đầu màu xám đen. Bộ lông dày mềm mại nhiều màu sặc sỡ. Lưng đốm đen xám. Chân, tay và đuôi rất dài (hơn 580mm). Hông trắng chuyển sang xám đen. Vùng bẹn và đuôi trắng đục.
Sinh học:
Thức ăn là quả, hạt, lá cây rừng, ngô khoai, sắn và rau xanh trên nương rẫy. Sinh sản rải rác quanh năm nhưng thường vào mùa xuân, mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con.
Nơi sống và sinh thái:
Chà vá chân đen thường sống trong rừng già trên núi cao từ 300 m trở lên so với mặt biển. Nơi ở của chúng là những cánh rừng rậm trên đỉnh núi hoặc bên sườn núi có độ dốc lớn. Chúng sống thành từng nhóm 3 - 5 cá thể. Hoạt đông kiếm ăn vào hai buổi sáng và chiều ở trên cây, ít khi xuống mặt đất. Buổi trưa và ban đêm trở về nghỉ ngơi thường cố định khá lâu. Di chuyển chậm chạp hơn vượn và gây ra nhiều tiếng động xào xạc cành cây, rất dạn người.
Phân bố:
Việt Nam: Kontum (Sa Thầy), Đắc Lắc (Nam Ca), Lâm Đồng (Di Linh), thành phố Hồ Chí Minh, Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận và mới phát hiện một quần thể khá lớn ở núi Chứa Chan thuộc tỉnh Đồng Nai.
Thế giới: Thái Lan và Cambodia.
Giá trị:
Phân loài đặc hữu Đông dương .
Tình trạng:
Chà vá chân đen là phân loài thú quý hiếm, sách đỏ thế giới xếp Chà vá chân đen vào bậc E. Ở nước ta trong những năm trước đây Chà vá chân đen có ở nhiều nơi, có những nơi số lượng khá phong phú (thành phố Hồ Chí Minh). Trong nhiều năm gần đây, do săn bắn quá mức, nhiều nơi đã trở nên rất hiếm. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm tuyệt đối săn bắn Chà vá chân đen. Xây dựng các khu bảo vệ ở Sa Thầy, bán đảo Sơn Trà, Yok Đôn, Nam Cát Tiên.

14. CHÀ VÁ CHÂN NÂU


Tên Việt Nam: Chà vá chân nâu
Tên Latin: Pygathrix nemaeus nemaeus
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Nhóm:Thú

Mô tả:
Thân hình thon mảnh. Bộ lông nhiều mầu. Đỉnh đầu, trán màu đen. Mặt, cằm trắng nhạt, lông dầy lên ở quanh mặt tạo thành vòng mặt. Vùng dưới mắt, dưới họng, cổ, ngực màu hung đỏ rực rỡ. Lưng mầu xám nhạt, hoặc lốm đốm trắng xám. Vai màu xám đen. Chân, tay rất dài. Cánh tay, bàn tay màu xám nhạt, các ngón tay màu đen. Đùi màu đen, ống chân màu nâu đỏ thẫm. Mu bàn chân và các ngón màu đen. Đuôi rất dài, lông màu trắng.
Sinh học:
Thức ăn chủ yếu của voọc vá là quả cây rừng, lá nõn cây, ngô khoai, sắn và rau xanh trên nương rẫy. Mỗi năm đẻ 1 con, voọc con xuất hiện trong đàn vào mùa xuân đầu mùa hạ.
Nơi sống và sinh thái:
Sống trong rừng già, rừng nguyên sinh trên núi cao 500 - 1000 m so với mặt biển. Vùng hoạt đông kiếm ăn cả ở rừng thứ sinh, rừng thưa, rừng hỗn giao trong thung lũng trên núi thấp, nương rẫy. Voọc vá sống thành đàn 5 - 10 con, có đàn đông tới 20 - 30 con. Mỗi đàn có vùng sống hoạt động riêng tách biệt tương đối với các đàn khác. Hoạt đông ban ngày vào hai buổi sáng và chiều tối. Buổi trưa và đêm nghỉ ngơi, trú ẩn trên cây cao, trên mỏm đá, hoặc trong hốc đá khi trời lạnh.
Phân bố:
Việt Nam: Từ Thanh Hóa (19030 độ vĩ bắc) dọc dãy Trường Sơn tới Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh.
Thế giới: Đảo Hải Nam, Lào, Cămpuchia.
Giá trị:
Giá trị khoa học: loài thú hiếm, phân bố hạn chế ở một số nước. Sách đỏ thế giới xếp voọc vá vào bậc E.
Giá trị kinh tế: thịtv làm thực phẩm, xương làm dược liệu, da, lông xuất khẩu.
Tình trạng:
ở nước ta những năm trước đây, voọc vá gặp phổ biến ở nhiều nùng thuộc Hà Tĩnh (Kỳ Anh, Hương Khê), Quảng Bình (Lệ Thủy, Bố Trạch, Tuyên Hóa). Trong nhiều năm do săn bắn bừa bãi, khai thác rừng quá mức voọc vá ngày càng trở nên hiếm. Mức độ đe dọa: bậc E.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm tuyệt đối không được bẫy bắt, săn bắn voọc vá. Tạm ngừng khai thác rừng ở một số khu vực còn voọc vá sinh sống. Nuôi voọc vá ở vườn quốc gia để nhân giống giữ nguồn gien.

15. CHÀ VÁ CHÂN XÁM


Tên Việt Nam: Chà vá chân xám
Tên Latin: Pygathrix nemaeus cinerea
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ:Linh trưởng Primates
Nhóm: Thú

Mô tả:
Kích thước và trọng lượng: tương tự Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus.
Đặc điểm nhận dạng:
Tương tự chà và chân nâu nhưng lông ở đùi màu xám sẫm chứ không như Chà vá chân nâu. Phân bố ở miền trung và miền nam của Lào và Việt Nam. Cũng giống như Chà vá chân nâu, chúng sống trong rừng ẩm thường xanh,
Tập tính và sinh hoạt tương tự nhau. Sống thành bầy đàn, bao gồm nhiều cá thể đực và cá thể cái. Mỗi đàn có khoảng 4 - 5 con.
Giá trị:
Là loài đặc hữu của Việt Nam. Có gía trị khoa học và thẩm mỹ
Tình trạng:
Chà vá chân là phân loài linh trưởng quý hiếm, chúng cần được xếp vào sách đỏ Việt Nam. Trong nhiều năm gần đây, do săn bắn quá mức, nhiều nơi đã trở nên rất hiếm.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm tuyệt đối săn bắn chà và chân xám. Xây dựng các khu bảo vệ loài này.
 

moitruong08

Sự trở lại của voi Mamut
#4
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
:complaint::complaint:
không biết tui đưa mấy thông tin này mấy bạn không quan tâm hay sao mà sao không thấy có ý kiến gì hết vậy.tui muốn post tiếp thông tin về dòng họ nhà rùa,ba ba,thấy mấy bạn không có ý kiến về các thông tin của tui,làm tui thấy mất cảm hứng tìm thông tin post tiếp rồi:pudency::pudency::pudency:
 
#16
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Bài viết rất hay và chi tiết với đầy đủ hình ảnh minh họa.
Cám ơn bạn nhiều!
mình thấy moitruong08 có post hình minh họa đâu!hic!toàn thấy nói k à!mình muốn thấy hình nữa cơ!:26:vậy mới sinh động và cuốn hút chứ!nói chay như vậy lỡ mai mốt mình đi đâu đó gặp k biết nó là dv cần được bảo vệ là thờ ơ với nó thì tội lỗi tội lỗi lắm à!:005:
 
#17
#18
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Bò này, ở Việt Nam tuyệt chủng rồi bạn ạ ???
Chết!
bạn học lại đi nhé
ko thấy giáo mắng chết
Bò này vừa đc chụp ở vườn quốc gia Phước Bình mà
nó về phá dân nên bị đuổi, nhưng ko đuổi đc, nó húc chết bò đực, quan hệ với bò cái, và đẻ ra bò con rồi đó
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/09/3BA1FF81/
Thấy nó đẹp quá là đẹp:dance3:
 
#19
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
Chết!
bạn học lại đi nhé
ko thấy giáo mắng chết
Bò này vừa đc chụp ở vườn quốc gia Phước Bình mà
nó về phá dân nên bị đuổi, nhưng ko đuổi đc, nó húc chết bò đực, quan hệ với bò cái, và đẻ ra bò con rồi đó
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/09/3BA1FF81/
Thấy nó đẹp quá là đẹp:dance3:
hehe!hay nhỉ!a sẵn tìm dùm em con bò con đó đi anh!k biết thế hệ F1 của bò rừng và bò nhà ra sao nhỉ!hihi!nghe diễn tả thui k hình dung dc gì cả!:018:
 

moitruong08

Sự trở lại của voi Mamut
#20
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất, tràn dầu và sự cố môi trường 25L
mình thấy moitruong08 có post hình minh họa đâu!hic!toàn thấy nói k à!mình muốn thấy hình nữa cơ!:26:vậy mới sinh động và cuốn hút chứ!nói chay như vậy lỡ mai mốt mình đi đâu đó gặp k biết nó là dv cần được bảo vệ là thờ ơ với nó thì tội lỗi tội lỗi lắm à!:005:
Chắc lâu rồi hình nó bị die để bữa nào tìm hình post lại
 
Top