Ứng dụng Gom Rác GRAC
FACEBOOK GRAC TẶNG ĐỒ VÀ PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN

Tìm tài liệu nước rỉ rác???

M

maimo

Guest
#2
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Bãi rác Nam Sơn



1. GIỚI THIỆU CHUNG

Hiện nay nhiều phương pháp và công nghệ xử lý rác hiện đại đã được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới, cho phép tái sinh một lượng đáng kể chất thải rắn, đồng thời làm giảm thể tích rác xuống còn rất thấp. Tuy nhiên sau các quá trình xử lý vẫn còn một lượng rác không thể xử lý hoặc tái sinh và cần được đổ bỏ, quản lý chặt.
Có hai phương án để quản lý lâu dài chất thải rắn: Một là đổ bỏ vào biển và hai là chôn lấp hợp vệ sinh trong đất. Do nhiều nguyên nhân, đổ chất thải rắn vào biển rất ít khi được sử dụng. Bãi chôn lấp hợp vệ sinh (sanitary landfill) là bãi được xây dựng, vận hành theo đúng tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy bãi chôn lấp hợp vệ sinh là phương án thích hợp không chỉ cho các nước phát triển, mà còn cho các nước đang phát triển về mặt kinh tế - kỹ thuật và môi trường.
Rác thải là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được các nhà quản lý quan tâm đến, vì nó là nguồn gốc gây nguy hại cho sức khoẻ cộng đồng, làm xấu môi trường cảnh quan và sinh thái đô thị. Thủ đô Hà Nội có diện tích 927,5km2, gồm 7 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, dân số toàn thành phố khoảng 2,6 triệu người trong đó dân số nội thành khoảng 1,5 triệu. Từ tình hình cấp bách về quản lý chất thải rắn, Hà Nội đã có định hướng chiến lược về quản lý chất thải rắn bằng các biện pháp kỹ thuật như thu gom, vận chuyển, sản xuất phân vi sinh, thiêu rác v.v. Năm 1998 Hà Nội đã xây dựng và đưa vào vận hành Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn, Sóc Sơn.
 
M

maimo

Guest
#3
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
2. CÁC VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG CỦA BÃI CHÔN LẤP RÁC.

Tại Việt Nam, bãi đổ rác cũng được xây dựng ở hầu hết các thành phố và đô thị và đang ở mức độ đơn giản là vận chuyển rác thải đến bãi và đổ bỏ (open dumping). Thực tế xử lý và quản lý các bãi rác đó cho thấy tính phức tạp của giai đoạn này, từ khi lựa chọn bãi rác đến khi vận hành, xử lý ô nhiễm môi trường và tái sử dụng các bãi đổ rác sau khi kết thúc.
Vấn đề môi trường nảy sinh trong quá trình vận hành bãi chôn lấp bao gồm:
* Nước rò rỉ gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt;
* Khí thải từ các quá trình phân hủy rác;
* Ô nhiễm sinh học ảnh hưởng đến sức khoẻ và vệ sinh công cộng.
Trong đó khó nhất hiện nay, mà hầu hết các bãi rác Việt Nam gặp phải mà chưa có phương hướng giải quyết thích hợp đó là xử lý nước rò rỉ.

2.1. Nước rò rỉ và ô nhiễm môi trường.


Nước rò rỉ tự sinh ra do độ ẩm cao (60-70%) của rác và do quá trình phân hủy các chất hữu cơ tạo thành nước (H2O) và khí cacbonic (CO2). Lượng nước rác không chỉ bao gồm nước tự sinh trong rác, chúng còn bao gồm lượng nước mưa thấm từ trên bề mặt xuống (nhất là ở nước ta nơi có lượng mưa tương đối lớn), từ nước ngầm ở dưới đáy và thành ô chôn lấp nếu xử lý chống thấm không triệt để. Trong quá trình thấm qua các tầng rác, nước sẽ đem theo các chất bẩn hòa tan hoặc lơ lửng. Nước rò rỉ thường tích đọng lại ở đáy của bãi rác. Với nồng độ chất hữu cơ cao (COD = 2.000 - 30.000 mg/l; BOD = 1.200 - 25.000 mg/l) và chứa nhiều chất độc hại, nước rò rỉ có khả năng gây ô nhiễm cả ba môi trường nước, đất và không khí, đặc biệt là gây ô nhiễm đến nguồn nước ngầm.
Như thế, nước rác với hàm lượng chất hữu cơ cao và các chất ô nhiễm khác sẽ là một nguồn ô nhiễm tiềm năng và là nguy cơ ô nhiễm môi trường. Người ta đã thống kê, bãi rác quản lý không hợp vệ sinh có mối liên hệ đến 22 loại bệnh tật của con người. Do hàm lượng chất hữu cơ cao, quá trình kị khí thường xảy ra trong các bãi rác, gây mùi hôi thối nặng nề và là nơi nhiều loài sinh vật gây bệnh cũng như các loại động vật mang bệnh phát triển như chuột, bọ, gián, ruồi, muỗi... Bên cạnh đó các bãi rác quản lý không hợp lý sẽ làm mất mỹ quan của thành phố và khu vực.

2.2. Tình hình quản lý chất thải rắn của Hà Nội.

Công ty Môi trường Đô thị (URENCO) trực thuộc Sở Giao thông Công chính Hà Nội là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ chất thải rắn của thành phố với các chức năng và nhiệm vụ sau :
* Tổ chức thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
* Thực hiện các dịch vụ vệ sinh môi trường khác
* Chế tạo, sửa chữa các thiết bị chuyên ngành
URENCO thu gom được khoảng 75% tổng chất thải sinh hoạt hàng ngày (từ nhà dân, các cơ quan, trường học, các khu du lịch, chợ, đường phố và công viên v.v.) - khoảng 1.100 - 1.200 T/ngày. Phần còn lại được thu gom bởi những người thu đồng nát nhằm tái chế, nhân dân tự đổ ra hồ, ao, bờ sông, ven đê và được thu gom qua các thời kỳ tổng vệ sinh. Toàn bộ lượng chất thải sinh hoạt này được chở lên bãi chôn lấp Nam Sơn, Sóc Sơn.
Khối lượng rác thu gom được của thành phố Hà Nội từ năm 1995 đến 1999 và dự báo cho năm 2000 được cho trong bảng 1. (Xem bảng 1)
Thành phần rác của Hà Nội cũng tương tự như rác của thành phố Hồ Chí Minh và của một số nước đang phát triển trong khu vực. (Xem bảng 2)
 
M

maimo

Guest
#4
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
3. GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT KẾ TRẠM XỬ LÝ NƯỚC RÁC

3.1. Dự án xây dựng hệ thống xử lý nước rác

Khu liên hợp Xử lý Chất thải Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội được xây dựng trên khu vực xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, cách trung tâm Hà Nội 45 km về phía Bắc, cách sân bay Nội Bài 15km về phía Đông Bắc. Diện tích quy hoạch cho Khu liên hợp là khoảng 100ha trong đó 60 ha dành cho khu chôn lấp rác thải (giai đoạn I là 13,5ha), 6 ha cho trạm xử lý đốt rác thải với công suất dự kiến 200.000 tấn/năm, 7,5 ha dành cho nhà máy chế biến phân vi sinh (compost) với công suất dự kiến đạt 250.000 tấn/năm và các công trình phụ trợ khác như trạm xử lý nước rác, trạm bơm, cấp nước...
Thành phố Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiên ở Việt Nam quan tâm đến bảo vệ môi trường ở các khu chôn lấp rác. Xây dựng Khu liên hợp xử lý chất thải tại Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội trong đó sẽ có Bãi chôn lấp hợp vệ sinh là một giải pháp kỹ thuật lớn trong việc giải quyết chất thải đô thị. Công tác thiết kế hợp lý và đúng kỹ thuật bãi chôn lấp, việc xây dựng trạm xử lý nước rác sẽ làm giảm tới mức tối thiểu mức độ gây ô nhiễm, phục vụ cho hoạt động ổn định của bãi chôn lấp.
Dự án "Thiết kế khu xử lý nước rò rỉ từ bãi chôn lấp rác tại Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội" đã được Viện Cơ học thực hiện và được chia làm 3 giai đoạn.
* Giai đoạn 1: Khảo sát, xây dựng mô hình, chọn sơ đồ công nghệ xử lý nước rác thích hợp.
* Giai đoạn 2: Thiết kế kỹ thuật chi tiết cho các hạng mục của dây chuyền công nghệ xử lý nước rác.
* Giai đoạn 3: Chuyển giao kỹ thuật và qui trình vận hành trạm xử lý nước rác cho cơ quan chủ quản.
3.2. Trạm xử lý nước rác tại Khu Xử lý chất thải Nam Sơn
3.2.1. Kết quả thực nghiệm giai đoạn 1

NGUYÊN TẮCLỰA CHỌN CÔNG NGHỆ

Sự lựa chọn công nghệ của trạm xử lý nước rác phải đáp ứng được các nguyên tắc sau:
* Đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
* Đảm bảo mức độ an toàn cao khi có sự thay đổi giữa mùa mưa và khô.
* Đảm bảo tính đơn giản dễ vận hành, ổn định, vốn đầu tư và chi phí vận hành thấp.
* Phù hợp với điều kiện Việt Nam mang tính hiện đại và sử dụng lâu dài.

Để đảm bảo các nguyên tắc trên, các khảo sát thông số kỹ thuật và thí nghiệm về xử lý nước rác từ các bãi chôn lấp đã có của Hà Nội (Bãi Tây Mỗ) và từ các mô hình chôn lấp rác tươi đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm công nghệ môi trường của Viện Cơ học. Tại đây, các thí nghiệm nghiên cứu cơ bản đã được tiến hành như xử lý hóa lý, xử lý hóa chất và xử lý sinh học. Các kết quả cho thấy rằng xử lý sinh học là khả quan nhất. Một mô hình pilot xử lý sinh học đã được tiến hành bao gồm hai quá trình: xử lý sinh học kỵ khí ngược (upflow anaerobic sludge blanket - UASB) và xử lý hiếu khí. Kết quả cho thấy phương pháp xử lý sinh học hai bậc có ưu điểm rõ rệt.
 
M

maimo

Guest
#5
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Dưới đây là các kết quả thực nghiệm:

Quá trình kỵ khí

Sau khi loại bỏ các chất cặn bằng phương pháp tuyển nổi, nước rác được đưa vào thiết bị sinh học kỵ khí UASB để xử lý chất hữu cơ. Các kết quả tại pilot phòng thí nghiệm cho thấy rằng: với nồng độ COD đầu vào từ khoảng 1.200 - 1.500mg/l đến khoảng 10.000 - 11.000 mg/l hiệu quả xử lý chất hữu cơ tại thiết bị này rất cao đạt đến 85 - 90%. Như vậy với tổng lượng chất hữu cơ ban đầu có trong nước rác, lượng hữu cơ đã giảm xuống đến khoảng 73-165 mg COD/l với COD đầu vào là 1.400 - 1500 mg/l và 711 - 961 mg COD/l với COD đầu vào là 10.000 - 11.000 mg/l. Hiệu quả trung bình xử lý hữu cơ ở đây là khoảng 90%. Sau khi đã qua quá trình xử lý kỵ khí, nước ra của quá trình này sẽ được xử lý tiếp bằng quá trình xử lý hiếu khí.

Quá trình hiếu khí


Xử lý hiếu khí được tiến hành với nồng độ COD thấp hơn nhiều so với xử lý kỵ khí, chúng được tiến hành ở những nồng độ khác nhau và bắt đầu với nồng độ COD đầu vào từ 500 mg/l và tối đa đến 3.500 mg/l. Các kết quả tại phòng thí nghiệm cho thấy rằng hiệu quả xử lý có thể đạt tới 90 - 95%, thậm chí tới 98%. Như vậy với COD đầu ra của quá trình kỵ khí và là COD đầu vào của quá trình hiếu khí với hiệu quả xử lý đã được khảo sát cho thấy nồng độ COD của nước thải sau khi qua quá trình xử lý hiếu khí sẽ còn lại ở mức trung bình cao nhất là 100mg/l +20%.
Công nghệ xử lý nước rác áp dụng tại Nam Sơn.
Từ những kết quả thực nghiệm, một mô hình công nghệ đã được đưa ra để xử lý nước rác Hà Nội, chúng ta có sơ đồ như sơ đồ công nghệ xử lý nước rác. (Xem sơ đồ).

3.2.2. Giải pháp thiết kế

Với các nguyên tắc nêu trên, kết hợp với điều kiện thực tế xây dựng và vận hành bãi chôn lấp rác Nam Sơn, giải pháp thiết kế xây dựng trạm xử lý dưới dạng contener đã được áp dụng để tăng cường khả năng tái sử dụng khi tăng công suất xử lý bằng cách lắp đặt thêm các đơn nguyên. Trong giải pháp này, tất cả các công trình đơn vị đều được xây dựng bằng thép với kích thước không vượt quá kích thước của một contener chuẩn. Hệ thống contener này thích hợp cho các công trình có công suất xử lý nước thải nhỏ, thời gian sử dụng không phải là vĩnh cửu. Với hệ thống này, trạm xử lý dễ dàng di chuyển theo các ô chôn lấp. Do chế tạo bằng thép, các công trình dạng contener dễ dàng thay đổi kết cấu để áp dụng các quá trình xử lý hiện đại hoặc tăng công suất.
 
M

maimo

Guest
#6
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
CÁC CÔNG TRÌNH ĐƠN VỊ

Bể tuyển nổi

Trong công nghệ này, bể tuyển nổi áp lực không có hóa chất đã được áp dụng để tách các chất không hòa tan (cặn lơ lửng). Thời gian lưu nước trong bình áp lực từ 3-5 phút, và thời gian lưu nước bể tuyển nổi là 20 - 30 phút. Nước rác được bơm từ bể chứa vào bình áp lực cùng với khí nén có áp lực từ 2,5 - 3,5 atm. Sau đó được chuyển qua bể tuyển nổi. Tại đây chất lơ lửng được tách ra cùng với bọt khí. Hiệu quả tách chất lơ lửng khoảng 90 - 95%, tạo điều kiện tối ưu cho các quá trình xử lý sinh học tiếp theo.

Bể UASB


Quá trình kỵ khí này đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới do những đặc điểm sau:
- Ba quá trình bao gồm Phân hủy - Lắng bùn - Tách khí được lắp đặt trong cùng một công trình đơn vị.
- Tạo thành các loại bùn hạt có mật độ vi sinh rất cao và tốc độ lắng vượt xa so với bùn hoạt tính hiếu khí dạng lơ lửng.
Do tại Việt Nam chưa có bùn hạt, nên cần phải có đủ thời gian để bùn hạt sinh ra. Việc này được thực hiện bằng cách nâng tải trọng hữu cơ một cách từ từ, với tải trọng ban đầu khoảng 3kg CODm3/ngđ. Mỗi khi đạt đến trạng thái ổn định, tải trọng hữu cơ này được nâng dần lên cho đến khi đạt tải trọng 15-29kg CODm3/ngđ. Thời gian này kéo dài khoảng 3-6 tháng. Sau đó thiết bị UASB sẽ hoạt động ổn định và có khả năng chịu quá tải cũng như nồng độ chất thải khá cao. Một trong những ưu điểm của quá trình này là lượng bùn sinh ra rất nhỏ và năng lượng điện tiêu hao rất thấp.

Bể thổi khí

Lượng chất hữu cơ còn lại (COD = 200 - 400mg/l) sau khi ra khỏi thiết bị UASB sẽ được xử lý tiếp tại các bể thổi khí. Với tải trọng 0,8 - 2,1 kg CODm3/ngđ, thời gian lưu nước dao động từ 10 - 12 giờ và lượng bùn tuần hoàn từ 53 - 60%.

Hồ sinh học

Nước thải sau khi ra khỏi bể thổi khí, được lắng đọng tự nhiên trong các bể lắng đứng. Nước thải sau bể lắng này sẽ được xả ra hồ sinh học để tiếp tục được xử lý bằng các quá trình sinh học tự nhiên của một hồ hiếu khí tùy tiện.
 
M

maimo

Guest
#7
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
4. THAY LỜI KẾT

Đây là công nghệ xử lý có vốn đầu tư thấp, tiêu tốn ít năng lượng và có hiệu quả xử lý cao. Nhưng vấn đề quan trọng nhất là khởi động và vận hành ổn định hệ thống thiết bị UASB một cách hợp lý để đưa toàn bộ hệ thống đạt trạng thái ổn định trong thời gian ngắn nhất.
Trạm xử lý nước rác tại Nam Sơn đã được Viện Cơ học thiết kế (phối hợp với Công ty Tư vấn Cấp thoát nước số 2, Bộ Xây dựng) và Tổng công ty Xây dựng Hà Nội chế tạo và lắp đặt với công suất 400m3/ngđ đã được hoàn thành vào tháng 7/2000. Hiện tại, Viện Cơ học đang chủ trì tiếp tục phần cuối cùng của dự án là chạy vận hành thử nhằm ổn định công nghệ cho thiết bị UASB và chuyển giao công nghệ cho cơ quan chủ quản. Sau một thời gian chuẩn bị cho vận hành thử, trạm xử lý nước rác Nam Sơn bắt đầu chính thức vận hành từ 20/8/2000.
Dự án này là một trong số rất ít dự án đi từ bước nghiên cứu cơ bản, pilot và áp dụng vào công trình thực tế. Với điều kiện thực tế và nhu cầu cấp bách, với kinh nghiệm của đội ngũ chuyên gia và cán bộ kỹ thuật Việt Nam, cùng với sự tham gia của các chuyên gia Hà Lan, dự án chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả thiết thực không chỉ phục vụ cho công việc vận hành chôn lấp hợp vệ sinh mà còn phục vụ cả cho công tác bảo vệ môi trường của thành phố Hà Nội n

Tài liệu tham khảo

1. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt thành phố Hồ Chí Minh - Báo cáo khoa học - Chương trình nghiên cứu bảo vệ môi trường - Sở KHCN&MT TP. HCM, 8-1997.
2. Khảo sát, xây dựng mô hình chọn sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý thích hợp nước rò rỉ bãi chôn lấp rác Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội - Báo cáo khoa học - Sở Giao thông Công chính TP. Hà Nội, 5-1999.
3. Perry's Chemical Engineers' Handbook, Sixth Edition, McGraw-Hill, 1994
4. Robert A. Corbitt. Standard Handbook of Environmental engineering. McGraw-Hill, 1990.
 
M

maimo

Guest
#8
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Công nghệ xử lý nước thải ô nhiễm hữu cơ cao - điển hình là nước rỉ rác

rác
Qui trình xử lý nước rỉ rác gồm 2 giai đọan :

1/ Xử lý sinh học:

1.1. Xử lý kỵ khí tùy nghi có bổ sung chế phẩm sinh học GEM, GEM-P và GEM-K.
Hồ kỵ khí tùy nghi có thể tích khoảng 30.000 m3; rộng gần 5000 m2.Thông số ô nhiễm nước rác đầu vào:
CODbđ : 2000mg/l~3500mg/l ; N- NH4+: 2000 mg/l ~3000 mg/l
Kết quả xử lý kỵ khí:
CODra : 800mg/l~1200mg/l ; N- NH4+: 200 mg/l ~300 mg/l

1.2. Xử lý hiếu khí tùy nghi:

Nước từ hồ kỵ khí được bơm qua giàn lọc vi sinh vào hồ hiếu khí có thế tích khoảng 5.000 m3. Nước được xử lý bằng cách thổi khí gián đoạn có bổ sung chế phẩm GEM, GEM-P và GEM-K.
Kết quả xử lý hiếu khí tuỳ nghi:
CODra : 200mg/l~400mg/l ; N- NH4+: 0 mg/l ~60 mg/l

2/ Xử lý hóa học:
2.1. Keo tụ:

Nước từ hồ hiếu khí được bơm vào hồ keo tụ. Chất keo tụ là muối sắt. Kết quả sau keo tụ: CODra : 110mg/l~200mg/l

2.2. Oxy hóa bằng phản ứng Fenton:


Nước sau khi keo tụ chảy qua hồ oxi hóa.Oxi hóa bằng phản ứng Fenton có xúc tác. Phản ứng xảy ra mãnh liệt trong vòng 3 giờ đầu. Phản ứng hoàn thành triệt để sau 8 h ~12h. Nước sau khi oxi hóa được điều chỉnh pH, đạt tiêu chuẩn xả cột B-TCVN 5945-1995.
 
M

maimo

Guest
#9
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
3/ Các chỉ tiêu kiểm nghiệm- Phương pháp phân tích.

Trong quy trình thực nghiệm, ta thường xuyên kiểm tra ở hồ kỵ khí, hồ hiếu khí, keo tụ, oxi hóa và hồ xả các chỉ tiêu sau :

Số TT Chỉ tiêu kiểm tra Đơn vị đo Phương pháp phân tích
1 pH Điện cực_ pH kế
2 COD mg/l Potassium dichromate-Định phân
3 PO43- mg/l Test_Quantofix® hosphate
4 N_NH4+ mg/l Test_Quantofix® mmonium
Lấy mẫu nước trước khi xả thải kiểm định các chỉ tiêu pH; COD; BOD; SS; N tổng; P tổng; Coliform tổng (TCVN-cột B 5945-1995).

4. Kết quả :
4.1 Kết quả giai đọan xử lý sinh học kỵ khí tuỳ nghi :
Sau thời gian xử lý bằng vi sinh kỵ khí tuỳ nghi bằng chế phẩm GEM,GEM-P … đã tạo được môi trường thích hợp cho các vi sinh vật hữu ích phát triển. Lúc này mùi hôi giảm khoảng 80% và trên mặt nước có màng rêu màu xanh lam.
Hiệu quả giảm COD trên thực tế ở giai đọan sinh học kỵ khí tùy nghi được thể hiện :


COD hồ sinh học kỵ khí giảm ~62 % (từ 2368 mg O2/l xuống còn 893 mg O2/l)
Bơm nước từ hồ chứa 6C và nước mới ban đầu sang nên COD tăng và cao nhất là 1320mg/l, sau thời gian xử lý kỵ khí có thêm chế phẩm, COD giảm dần và thấp nhất đạt được là 305 mgO2/l, giảm 77 %. Thời gian sau, do điều kiện tự nhiên của hồ và do hàng ngày nước từ hồ kỵ khí tùy nghi được rút sang hồ hiếu khí, nên COD thay đổi và dao động trong khoảng từ 400÷750 mgO2/l.
Về hiệu quả khử mùi NH3, sau thời gian xử lý kỵ khí tùy nghi NH4+ giảm ~95% (NH4+bđ = 2000 mg/l -> NH4+cuốii = 100 mg/l). Do bơm nước mới vô nên NH4+ tăng, cao nhất là NH4+~600, sau đó giảm và đạt 150~200mg/l.
 
M

maimo

Guest
#10
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
4.2.Kết quả giai đọan xử lý sinh học hiếu khí :

Sau thời gian thổi khí gián đoạn có bổ sung chế phẩm sinh học GEM, GEM-K, GEM-P…nước rất trong và có màu đỏ nhạt. Trên mặt hồ có màng rêu muà xanh lá cây đậm. COD giảm 66÷70% CODTB thấp nhất đạt 370÷480 mg/l, NH3 giảm 80 ÷ 95% và đạt 10÷70 mg/l.
Hằng ngày nước từ hồ hiếu khí được rút qua hồ keo tụ để tiến hành xử lý bằng hóa học, và bơm nước từ hồ kỵ khí sang nên nước trong hồ luôn thay đổi và phụ thuộc vào nước hồ kỵ khí tùy nghi. Do bơm nước mới vào hồ kỵ khí tùy nghi nên COD và NH4+ hồ kỵ khí tùy nghi và hồ hiếu khí đều tăng, thời gian xử lý hiếu khí không đủ để giảm COD, chỉ đủ để khử mùi NH3, NH4+ giảm dần và đạt 25÷70 mg/l

4.3. Kết quả giai đọan xử lý hóa học:

Nước rỉ rác sau khi xử lý sinh học (kỵ khí tuỳ nghi và hiếu khí) bằng GEM-P, GEM- K và GEM, qua giai đoạn xử lý hóa học ( keo tụ, oxi hóa, chỉnh pH) nước đầu ra đạt tiêu chuẩn xả thải loại B.

5. Nhận xét:

Các chế phẩm sinh học GEM-P, GEM và GEM-K khi thêm vào nước rác có khả năng thích nghi với hệ vi sinh vật tự nhiên, tạo thành một hệ sinh học tương đối hoàn chỉnh có tác dụng khử mùi của nước rỉ rác, nhất là NH3, đồng thời phân hủy các hợp chất hữu cơ khó tan góp phần giảm COD, BOD, giảm nồng độ độc hại của nước rỉ rác. Mặt khác, hệ vi sinh trong các chế phẩm họat động tốt trong cả môi trường kỵ khí tùy nghi và hiếu khí mà không cần thiết phải pha loãng nước rác. Một điều đặc biệt là lượng bùn nhỏ phát sinh trong quy trình xử lý sinh học rất ít ( < 1.5 % tổng khối lượng nước rác) nên bước xử lý bùn rất đơn giản và ít tốn kém.

Bên cạnh đó, việc kết hợp một cách có hiệu quả của ba quy trình xử lý sinh học kỵ khí, hiếu khí có bổ sung chế phẩm với quy trình xử lý hóa học sẽ tạo thành một qui trình xử lý nước thải tương đối hoàn chỉnh có thể áp dụng không chỉ trong lĩnh vực nước rỉ rác mà cả trong lĩnh vực nước thải đô thị, công nghiệp, cống rãnh, kênh rạch….
 
M

maimo

Guest
#11
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Xử lý mùi hôi và nước thải ô nhiễm

Mô tả:

1.Thành phần chính
- Lactobacillus sp.
- Rhodopseudomonas sp.
- Saccharomyces cerevisiae.

2.Công dụng

- Làm giảm mùi hôi tại các bãi rác, hầm cầu, nhà vệ sinh, cống rãnh, ao tù.
- Tăng khả năng phân huỷ chất hữu cơ.
- Tăng độ oxy hoà tan, giảm lượng khí độc H2S, NH3.
- Khử mùi lớp bùn đáy ao.

Xử lý đáy ao và tái tạo hệ vi sinh vật hữu ích

Mô tả:
1. Thành phần chính
- A spergillius oryzae
- Vi khuẩn quang hợp
- Saccharomyces cerevisiae
- Vi khuẩn lactic
- SiO2, Al2O3, MgO
- Phụ gia

2. Công dụng
- Rút ngắn thời gian gây tảo; kích thích sinh tảo có ích.
- Tăng độ oxy hòa tan, giảm lượng khí độc H2S, NH3.
- Tăng khả năng phân hủy hữu cơ, giảm COD, BOD.
- Giảm lượng bùn tích tụ; khử mùi hôi lớp bùn đáy hồ.
- Ổn định màu nước, ổn định độ pH.
- Đặc biệt phục hồi hệ vi sinh vật đáy, tái tạo dinh dưỡng đáy những ao nuôi qua nhiều vụ, góp phần giảm bớt bệnh tật phát sinh.

3.Cách dùng
Chuẩn bị ao nuôi: rải đều lên mặt đáy ao 200-500g/2000m2 , sau đó cho nước vào khoảng 2 tấc, giữ từ 5-7 ngày để làm sạch đáy và gây tảo.
T Cải thiện môi trường sống: 1kg~2kg/5000 m2 1-2 lần/tháng.
T Tốt nhất rải xuống ao lúc sáng sớm hoặc chiều tối.
T Không cần sục khí khi rải xuống ao.
 
M

maimo

Guest
#12
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Xử lý chất thải hữu cơ

Mô tả:
1.Thành phần chính
- Lactobaccillus sp.
- Rhodopseudomonas sp.
- A spergillius oryzae.
- Saccharomyces cerevisiae.
- Chất hữu cơ.

2. Công dụng
- Bổ sung chủng loại vi sinh vật hữu ích vào rác thải, nước thải.
- Tăng khả năng phân hủy hữu cơ, phân hủy hầm cầu.
- Giảm mùi hôi. Hạn chế được mùi hôi, thối từ thực phẩm thừa, rác thải.
- Tránh tình trạng rác chưa thu gom đã bốc mùi và gây ô nhiễm.

3. Cách dùng
T Phân hủy hầm cầu:
- Đổ 0,5 kg GEM-P1 vào hầm cầu 1m3 . Định kỳ 2 – 3 tháng/lần.
T Khử mùi hôi và tăng khả năng phân hủy rác gia đình, rác hữu cơ:
- Rắc đều 50-100 g GEM-P1/1kg rác rồi đậy kín lại.
- Đối với rác chợ, rác thải số lượng lớn nên rắc đều 5kg GEM-P1/1000kg rác.
T Phân hủy phân gia súc, gia cầm:
- Trộn đều GEM-P1 theo tỉ lệ 0,5-1kg/1000kg phân.
- Ủ kín, giữ ẩm khoảng 40%, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp.
- Tốt nhất dùng chung với chế phẩm GEM-K.
- Nếu đống phân ủ vẫn hôi, tăng lượng GEM-P1.
 
M

maimo

Guest
#13
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC RÁC TẠI MỘT SỐ ĐÔ THỊ VIỆT NAM

GS. TS Trần Hiếu Nhuệ

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu Công nghiệp Trường Đại học Xây dựng

Trong thập kỷ này vấn đề chất thải rắn đô thị ở Việt Nam đã được Nhà nước ta, các nhà quản lý, các nhà hoạt động khoa học chuyên môn và toàn thể cộng đồng quan tâm, vì chất thải rắn là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường quan trọng, gây nguy hại đến sức khoẻ cộng đồng, làm mất cảnh quan, mỹ quan và sinh thái đô thị,...
Từ trước tới năm 1998, chúng ta chưa xây dựng được bãi chôn lấp nào đúng quy cách, hợp vệ sinh. Năm 1996 Bộ Xây dựng đã ban hành quy phạm thiết kế, xây dựng, vận hành và kiểm soát bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Tới năm 1998 - 1999, chúng ta đã có định hướng và chiến lược về quản lý chất thải rắn đô thị, chất thải rắn nguy hại và mới đây năm 1999 Bộ Y tế đã ban hành quy chế quản lý chất thải y tế. Trong mấy năm gần đây hàng loạt dự án về bãi chôn lấp hợp vệ sinh đã, đang được thực hiện tại Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, ... Đó là những bước tiến quan trọng trong việc quản lý chất thải rắn ở nước ta.

1. Vấn đề thu gom rác từ những bãi chôn lấp hợp vệ sinh.

Nước rác hay nước rò rỉ trong bãi thải là loại chất lỏng thấm qua các lớp rác của các ô chôn lấp và kéo theo các chất bẩn dạng lơ lửng, keo và tan từ chất thải rắn vào tầng đất ở dưới đáy bãi chôn lấp.
Nước rác hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau và bao gồm: nước có sẵn trong rác; nước ngầm dâng lên từ dưới đáy, nước từ ngoài thấm qua thành vách các ô chôn lấp; nước từ khu vực khác chảy tới; nước mưa từ bản thân khu vực chôn lấp và từ khu vực khác chảy tới.
Trong đa số trường hợp nước rác bao gồm phần dịch lỏng tạo thành từ quá trình phân huỷ chất thải rắn và phần nước từ bên ngoài thấm vào như nước mặt, nước mưa và nước ngầm. Phần dịch lỏng qua lớp chất thải rắn đang bị phân huỷ bao gồm tất cả những sản phẩm phân huỷ sinh học và hoá học. Những sản phẩm này bị lôi cuốn bởi dòng nước thấm từ ngoài vào.
Hệ thống thu gom nước rác thải được thiết kế sao cho có thể thu gom toàn bộ nước rác từ đáy bãi chôn lấp và tập trung, dẫn về khu xử lý trước khi xả ra nguồn tiếp nhận nhưng với lượng nước ít nhất có thể. Nếu nước rác được dẫn ngay ra trạm xử lý thì sẽ không có nước đọng lại trong lớp rác và áp suất tạo ra đối với lớp chống thấm là thấp nhất. Hệ thống thu gom nước rác tại bãi chôn lấp Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội bao gồm:
1) Ống chính tổng thể thu gom, tập trung toàn bộ nước rác từ ống dọc của từng ô.
2) Ống dọc, thu gom nước rác từng ô. Ống này được đặt dọc nền đáy từng ô chôn lấp và nằm trên tầng chống thấm của đáy ô chôn lấp hoặc trên màng tổng hợp chống thấm.
3) Mạng lưới ống nhánh thu nước rác được đặt ở bên trong từng ô để thu gom nước rác trên toàn bộ đáy mỗi ô chôn lấp. Mạng lưới đường ống nhánh có đường kính tối thiểu 150 - 200mm, độ dốc tối thiểu 1%, ống dọc và ống nhánh đều là những ống có khoan lỗ.
4) Các ống đứng được nối với các ống dọc và mạng lưới ống nhánh và sẽ được nối cao dần khi chiều cao lớp rác được đổ dầy thêm. Tổng chiều cao lớp rác giai đoạn 1 của bãi chôn lấp Nam Sơn là 26m. Khi giai đoạn 2 đưa vào vận hành, cột rác của giai đoạn 1 và 2 sẽ tăng tới 36m. Như vậy ống đứng có chức năng là những ống thông khí. Ngoài ra khi chiều cao lớp rác được đổ khá lớn, tuỳ thuộc khả năng thấm nước của các lớp rác và các lớp đất phủ, người ra có thể đặt thêm các ống thu gom nước rác trung gian theo chiều cao. Mạng lưới ống thu gom nước rác này còn có chức năng thông khí cho bãi rác.
5) Lớp vật liệu lọc bằng sỏi bao quanh đường ống thu gom nước rác sao cho nước rác tự chảy nhanh nhất xuống hệ thống ống thu gom.
6) Ngoài ra còn có hồ chứa nước rác và trạm bơm nước rác đến trạm xử lý.
Theo không gian và phương thức thu gom người ta phân biệt:
Rãnh thoát nước mưa và nước mặt: Có thể là rãnh hở hoặc rãnh kín, được bố trí xung quanh bãi. Chức năng của nó là thu gom nước mưa và nước mặt không cho chảy vào bãi rác đồng thời thu gom nước rác không cho chảy vào nguồn nước mặt hay nước ngầm mạch nông. Những bãi chôn lấp rác đã có hệ thống thu gom nước rác ở đáy, cũng phải có rãnh thoát nước xung quanh.
Trong trường hợp bãi chôn lấp rác nổi thì rãnh thoát nước có thể thay thế hay kết hợp với hệ thống thu gom và thoát nước đáy.
Bơm nước rác từ giếng lên: Việc thu gom nước rác bằng bơm từ các giếng ở trong hay xung quanh bãi là phương thức khá phổ biến ở những bãi chôn lấp rác hiện đang hoạt động vì ở đó không có hệ thống thu gom nước rác đáy hoặc yêu cầu phải bổ sung thêm. Nhược điểm của phương thức thu gom này là nước ngầm bị ô nhiễm và phải bơm cả hỗn hợp nước rác thấm từ trên các lớp rác với nước ngầm, do đó khối lượng nước phải bơm và xử lý rất lớn.
Hệ thống thu gom và thoát nước đáy: Đây là hệ thống có diện tích thu gom khá lớn. Hệ thống này có thể là mương rãnh xây và đậy tấm đan có lỗ hoặc ống khoan lỗ. Đối với bãi chôn lấp Nam Sơn là hệ thống ống khoan lỗ như trên đã mô tả.
 
M

maimo

Guest
#14
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
2. Thành phần tính chất nước rác.


Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới thành phần và tính chất nước rác như bản chất của rác hay chất thải rắn; điều kiện môi trường bao quanh như khí hậu, độ ẩm, thời gian, độ pha loãng với nước mặt, nước ngầm, nước mưa,... Bảng 1 là thành phần nước rác theo quy định thiết kế, xây dựng, vận hành và kiểm soát bãi chôn lấp phế thải sinh hoạt đô thị TC 9423.
Bảng 1: Thành phần nước rác từ bãi chôn lấp rác sinh hoạt (mg/l trừ pH) /1/
Bảng 2: Thành phần nước rác từ bãi chôn lấp Tây Mỗ
Trung tâm Nghiên cứu Đào tạo và Tư vấn Môi trường (CERECE), Viện Cơ học đã tiến hành phân tích thành phần nước rác ở Bãi chôn lấp rác Tây Mỗ vào tháng 7 và 8 năm 1998 /2/ được thể hiện ở bảng 2. Kết quả cho thấy: COD dao động trong khoảng 2.000 - 30.000 mg/l, hàm lượng cặn lơ lửng trong khoảng: 200 - 1.000 mg/l, N-NH4 trong khoảng 1 - 800 mg/l. Các nghiên cứu khác của thành phố Hồ Chí Minh cũng cho những kết quả tương tự.

3. Công nghệ xử lý nước rác.

Các số liệu nghiên cứu cho thấy, nước rác rò rỉ chứa nhiều chất ô nhiễm khác nhau. Mỗi loại nước rác, theo đặc điểm thành phần, tính chất của nó, đòi hỏi phải có các phương pháp xử lý khác nhau. Theo bản chất của mình, các phương pháp xử lý được chia ra:
- Phương pháp xử lý cơ học: Các lực trọng trường, lực ly tâm được áp dụng để tách các chất không hoà tan ra khỏi nước thải. Phương pháp xử lý cơ học thường đơn giản, rẻ tiền, có hiệu quả xử lý chất lơ lửng cao. Các công trình, thiết bị xử lý cơ học thường dùng như song chắn, lưới chắn rác, lưới lọc, bể lặng, bể lọc với vật liệu lọc là cát thạch anh,... Nhiều khi để tách các chất lơ lửng không tan và dầu mỡ người ra còn dùng bể tuyển nổi.
- Phương pháp xử lý hoá học: Sử dụng các phản ứng hoá học để xử lý nước thải. Các công trình xử lý hoá học thường kết hợp với công trình xử lý cơ học. Mặc dù có hiệu quả cao, nhưng phương pháp xử lý hoá học thường đắt tiền và đặc biệt thường tạo thành các loại sản phẩm phụ độc hại.
- Phương pháp xử lý sinh học: Với việc phân tích và kiểm soát môi trường thích hợp, hầu hết các loại nước thải đều có thể được xử lý bằng phương pháp sinh học. Mục đích của phương pháp này là keo tụ và tách các hạt keo không lắng và ổn định (phân huỷ) các chất hữu cơ nhờ sự hoạt động của vi sinh vật hiếu khí hoặc kỵ khí nhằm giảm nồng độ các chất hữu cơ, giảm chất dinh dưỡng như nitơ và phôtpho. Có 5 nhóm chính: quá trình hiếu khí, quá trình anoxic, quá trình kỵ khí, quá trình hiếu khí - anoxic - kỵ khí kết hợp, quá trình hồ sinh vật. Ưu điểm của phương pháp này là rẻ tiền và có khả năng tận dụng các sản phẩm phụ làm phân bón (bùn hoạt hoá) hoặc tái sinh năng lượng (khí mêtan).
 
M

maimo

Guest
#15
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
4. Nguyên tắc lựa chọn công nghệ xử lý nước rác.

Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, việc lựa chọn công nghệ xử lý nước rác phải theo các nguyên tắc sau:
- Công nghệ xử lý phải đảm bảo chất lượng nước sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn xả vào nguồn. Nước sau khi xử lý có thể xả vào sông hoặc hồ gần nhất,
ngoài ra có thể dùng cho trồng trọt.
- Công nghệ xử lý phải đảm bảo mức độ an toàn cao trong trường hợp có sự thay đổi lớn về lưu lượng và nồng độ nước rò rỉ giữa mùa khô và mùa mưa.
- Công nghệ xử lý phải đơn giản, dễ vận hành, có tính ổn định cao, vốn đầu tư và chi phí quản lý phải là thấp nhất.
- Công nghệ xử lý phải phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhưng phải mang tính hiện đại và có khả năng sử dụng trong một thời gian dài.
- Việc lựa chọn công nghệ xử lý nước rác dựa trên các yếu tố sau:
+ Lưu lượng và thành phần nước rác.
+ Tiêu chuẩn thải nước rác sau khi xử lý vào nguồn.
+ Điều kiện thực tế về quy hoạch, xây dựng và vận hành của bãi chôn lấp.
+ Điều kiện về địa chất công trình và địa chất thuỷ văn.
+ Điều kiện về kỹ thuật (xây dựng, lắp ráp và vận hành).
+ Khả năng về vốn đầu tư.
- Công nghệ xử lý phải có khả năng thay đổi dễ dàng khi áp dụng các quá trình xử lý mới có hiệu quả cao.
- Công nghệ xử lý phải có khả năng tái sử dụng các nguồn chất thải (năng lượng, phân bón...).

5. Lựa chọn công nghệ xử lý cho bãi chôn lấp Nam Sơn Hà Nội, Thành phố Hạ Long và thành phố Đà Nẵng.

Ở Hà Nội, trên cơ sở nguyên tắc lựa chọn công nghệ, thành phần và lưu lượng nước rác, điều kiện địa phương (khí hậu, kinh tế và kỹ thuật...) hai sơ đồ công nghệ xử lý đã được lựa chọn để xử lý nước rác cho bãi chôn lấp Nam Sơn giai đoạn 1.
Sơ đồ công nghệ truyền thống (Hình 1).

Đó là quá trình xử lý cơ học kết hợp xử lý sinh học hiếu khí trong bể aêrôten với bùn hoạt hoá. Ưu điểm của sơ đồ này là hiệu quả xử lý cao, dễ dàng vận hành vì là công nghệ truyền thống, cổ điển, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm ở các nước; nước sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn loại B theo TCVN 5945 - 1995. Tuy nhiên sơ đồ này có những nhược điểm là tiêu tốn nhiều năng lượng; tạo nhiều bùn loãng, vốn đầu tư và chi phí quản lý và vận hành lớn; phải vận hành liên tục cả lúc không có nước đến; khả năng vận hành kém và cho hiệu quả xử lý thấp lúc vượt tải.

Sơ đồ công nghệ (Hình 2) là sơ đồ công nghệ sử dụng bể tuyển nổi áp lực, kết hợp xử lý sinh học kỵ khí với lớp bùn lơ lửng, dòng nước hướng lên (bể UASB) và xử lý sinh học hiếu khí trong bể aêrôten với bùn hoạt hoá. Nước rác được tập trung vào bể thu và nhờ bơm đưa nước vào bể tuyển nổi áp lực. Hiệu suất tách cặn lơ lửng ở bể tuyển nổi đạt cao hơn so với bể lắng, tạo điều kiện tốt cho bể UASB hoạt động. COD của nước sau khi qua bể UASB giảm từ 4.000 - 6.000 mg/l xuống khoảng 300 - 500 mg/l đảm bảo tốt cho quá trình sinh học hiếu khí trong bể aêrôten. Nước sau xử lý cũng thoả mãn yêu cầu xả ra nguồn theo tiêu chuẩn loại B. Ưu điểm của sơ đồ này là tính ổn định cao, hiệu suất xử lý cao hơn, ít tiêu tốn năng lượng đồng thời lại tạo khí tái sinh năng lượng, lượng bùn tạo ra ít hơn, linh hoạt hơn khi tải lượng thay đổi theo hướng vượt tải, về mùa mưa khi nồng độ chất hữu cơ trong nước rác thấp chỉ cần vận hành bể UASB, có khả năng thay đổi công nghệ và ứng dụng các quá trình xử lý hiện đại khi cần thiết cải tạo. Tuy nhiên vì bể UASB là loại công nghệ mới và việc vận hành khởi động đưa công trình vào hoạt động đòi hỏi thời gian lâu và tay nghề vận hành cao.
 
M

maimo

Guest
#16
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Trên cơ sở xem xét hai sơ đồ công nghệ trên, để xử lý nước rác ở bãi chôn lấp Nam Sơn đã chọn sơ đồ 2 để áp dụng cho giai đoạn 1. Trên cơ sở kinh nghiệm vận hành của giai đoạn 1, hướng cho giai đoạn 2 cũng sẽ lựa chọn sơ đồ công nghệ này.

Công suất của trạm xử lý giai đoạn 1 là 400m3/ngđ
Các thông số kỹ thuật chính của trạm xử lý giai đoạn 1:
Bể tuyển nổi áp lực:
- Thùng áp lực: D x H = 1,2 x 2,0m
- Bể tuyển nổi: B x L x H = 1,5 x 3,5 x 2m. - Máy bơm: Q = 16 - 20m3/h; H = 3 - 3,5 atm
- Máy nén khí: Q = 8m3/h; H = 6 atm
Bể UASB: 8 bể mỗi bể kích thước:
- Bể UASB: D x H = 2,4 x 6,0 m
Thiết bị điều áp
- Máy bơm: Q = 17m3/h; H = 1,0 atm
Bể AÊRÔTEN: 4 bể
- Mỗi bể kích thước: B x L x H = 2,4 x 8,0 x 2,5 m
- Máy sục khí: số lượng 10, công suất mỗi máy 1 KW
Bể lắng đợt hai:
- Bể lắng (4 bể)
kích thước mỗi bể: B x L x H = 2,4 x 8,0 x 2,5 m
- Bơm bùn: Q = 120 m3/h; H = 6m
Toàn bộ công trình được thiết kế bằng thép Inox dạng thùng container để dễ vận chuyển và sử dụng cơ động.
* Tại thành phố Hạ Long và thành phố Đà Nẵng thì chọn phương pháp xử lý nước rác bằng phương pháp hoá học (Vôi trộn) kết hợp xử lý sinh học ở hồ kỵ khí trong điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên các dự án này còn đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
6. Kết luận:
- Đây là một bước tiến mới trong việc quản lý chất thải rắn của Hà Nội, Hạ Long, Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung. Hà Nội đã mạnh dạn áp dụng công nghệ mới trong việc xử lý nước rác ở bãi chôn lấp.
- Tuy nhiên đây mới là bước đầu và trong giai đoạn thử nghiệm. Chúng ta còn phải mất nhiều công sức trong việc vận hành, khảo sát, nghiên cứu để xác định, lựa chọn những sơ đồ công nghệ phù hợp cũng như xác định các tham số tính toán công nghệ cho các trạm xử lý nước rác nói riêng và xử lý nước thải đô thị và công nghiệp nói chung.

Tài liệu tham khảo

1. Quy định thiết kế, xây dựng, vận hành và kiểm soát bãi chôn lấp phế thải sinh hoạt đô thị. TC 9423 - Bộ Xây dựng. Hà Nội 1996.
2. Báo cáo khảo sát mô hình, chọn sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý thích hợp nước rò rỉ từ bãi chôn lấp rác tại Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội. Trung tâm nghiên cứu, đào tạo và Tư vấn Môi trường (CERECE), Hà Nội tháng 9-1998.
3. Dự thảo Chiến lược quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp Việt Nam. Bộ Xây dựng, Hà Nội tháng 9 năm 1998.
4. Dự thảo nghiên cứu tiền khả thi bãi chôn lấp Nam Sơn giai đoạn 2 và hệ thống trung chuyển rác thải. Nippon Koe Co. Ltd - Ex- Corporation - tháng 10 năm 1999.
5. Báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án xây dựng các bãi chôn lấp chất thải rắn ở Thành phố Đà Nẵng. Công ty GHD - KINHILL (Ôxtrâylia) và Công ty Tư vấn Cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam (VIWASE) - Công ty Môi trường Đô thị TP. Đà Nẵng. Tháng 4-1998.

6. Báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án xây dựng các bãi chôn lấp chất thải rắn ở thành phố Hạ Long. trung tâm Tư vấn và Công nghệ Môi trường - Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Công ty Môi trường Đô thị, tỉnh Quảng Ninh. Tháng 10 - 1998.

http://www.nea.gov.vn/tapchi/toanvan/09-2k-22.htm
 
M

maimo

Guest
#18
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Công nghệ xử lý nước rỉ rác: Bài học từ công trường Gò Cát

(Khoa học và Công nghệ, số 17 + 18, ngày 28/4 - 11/5/2005, tr.5)

Xử lý nước rỉ rác từ các bãi chôn lấp rác hiện đang là vấn đề được quan tâm đặc biệt tại các đô thị lớn ở Việt Nam. Hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng xử lý nước rác, tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các công trình này đều không đáp ứng được yêu cầu xử lý đạt tiêu chuẩn thải Việt Nam loại B đói với các chỉ tiêu COD và nitơ tổng. Chính vì thế những thành công từ bãi rác Gò Cát là một bài học cho việc ứng dụng công nghệ xử lý một cách linh hoạt.
Theo ông Trần Ứng Long - Trung tâm Công nghệ Môi trường ECO (TP Hồ Chí Minh cho biết: thực tế trong nước rỉ rác, hàm lượng chất hữu cơ không có khả năng phân huỷ sinh học chiếm tỉ lệ cao, hàm lượng nitơ tổng rất lớn (có trường hợp lên đến 3.200mg/l). Do đó, nước rỉ rác sau khi xử lý sinh học thường có hàm lượng COD dao động trong khoảng 400 - 500mg/l (chủ yếu là lượng COD trơ). Để đáp ứng tiêu chí xử lý nước rác đạt tiêu chuẩn loại B của xả thải của Việt Nam 5945 - 1995, công nghệ xử lý phải là sự kết hợp của các quá trình xử lý khác nhau như: quá trình xử lý sinh học, xử lý hoá lý và sau cùng là quá trình vi lọc và nano. Trung tâm công nghệ môi trường - ECO đã áp dụng các nguyên tắc trên để xây dựng trạm xử lý nước rỉ rác tại công trường xử lý rác Gò Cát - TP Hồ Chí Minh và đạt hiệu quả xử lý rất khả quan. Chất lượng nước sau xử lý luôn đạt tiêu chuẩn thải TCVN 5945 - 1995, kể cả các chỉ tiêu COD và Nitơ tổng.
Tìm hiểu về công nghệ xử lý nước rỉ rác tại công trường Gò Cát được biết, nước rác tại đây được xử lý qua 4 bậc. Bậc 1: xử lý sơ bộ loại bỏ canxi kết hợp xử lý sinh học kị khí bằng bể xử lý kị khí với dòng chảy ngược qua đệm bùn (bể phản ứng UASB). Ngăn trộn nhận nước rác thô và nước tuần hoàn từ bể UASB. Từ đây nước thải được đưa qua tháp khử canxi. Bậc 2: xử lý sinh học hiếu khí bùn hoạt tính (ASP) kết hợp với quá trình Nitrate hoá và khử Nitrate để giảm thiểu BOD, COD và nitơ tổng. Bậc 3: xử lý hoá - lý bằng keo tụ - tạo bông - kết tủa - lắng và lọc cát. Bậc 4: xử lý bằng các quá trình lọc (vi lọc và lọc nano). Tại bước xử lý này nước rỉ rác được bơm từ bãi chôn lấp vào xử lý bậc 1 với lưu lượng 400m3/ngày. Nước sau khi xử lý được xả ra môi trường đạt tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên, ông Trần Ứng Long cho rằng: kinh nghiệm thực tế từ quá trình vận hành hệ thống xử lý nước rỉ rác tại công trình xử lý rác Gò Cát cho thấy, để xử lý nước rỉ rác đạt hiệu quả, ngoài yếu tố công nghệ xử lý cần đặc biệt quan tâm đến lớp phủ trung gian, hệ thống thu gom và hồ điều hoà nước rỉ rác. Có được kết luận này là vì tại trạm xử lý nước rỉ rác Gò Cát đã nảy sinh những vấn đề trong vận hành đó là: nước rỉ rác đầu vào có khoảng dao động rất lớn về nồng độ, từ đó ảnh hưởng đến hiệu suất của quá trình xử lý sinh học. Trong khi đó nước rác lại chứa rất nhiều đất, cát, chất rắn lơ lửng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý. Do đó cần phải tạo một lớp phủ trung gian bằng đất thịt để tạo một dòng chảy đứng đi qua lớp rác về bể chứa. Bể chứa lúc này được xem như bể cân bằng với thời gian lưu nước lâu, là điều kiện thích hợp để ổn định nồng độ và lưu lượng nước rỉ rác, hạn chế sự sốc tải cho hệ thống xử lý.
Từ những kết quả thực tế của trạm xử lý nước rác Gò Cát cho thấy, việc ứng dụng công nghệ xử lý nước rác cần kết hợp nhiều quá trình xử lý khác nhau. Trong đó xử lý bằng lọc nano cho hiệu quả xử lý cao và ổn định, đảm bảo chất lượng nước theo tiêu chuẩn Việt Nam cho phép.

http://www.nea.gov.vn/nIndex.asp?ID=22518
 
M

maimo

Guest
#19
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Ô nhiễm của bãi rác Gò Cát!!Nguyên nhân do đâu

Xin trích một phần nhận xét từ báo SGGP:

Nói về công nghệ xử lý rác tại Gò Cát, ông Nguyễn Văn Chiến đánh giá là hiện đại nhất nước, hoàn toàn của Hà Lan. “Tuy nhiên, khi triển khai dự án, các chuyên gia Hà Lan không lường trước được rác ở Việt Nam khác với rác Hà Lan (?)”. Trước mắt, để hạn chế mùi hôi, Công ty MT-ĐT đang tăng cường xịt chế phẩm khử mùi; thay bạt nhựa bằng tấm HDPE để hạn chế phát tán mùi hôi và nước mưa ngấm vào rác; dùng xe bồn vận chuyển nước rỉ rác 800m3/ngày sang xử lý tại các bãi rác khác.... Sở TN-MT cũng đề xuất UBND TPHCM 3 phương án khắc phục sự cố tại nhà máy nước rỉ rác. Trong đó có phương án xây dựng thêm hệ thống xử lý riêng biệt tại Gò Cát để xử lý toàn bộ lượng nước rỉ rác tồn đọng.

Trưởng ban Kinh tế-Ngân sách HĐND TPHCM Nguyễn Minh Hoàng cho rằng, việc xây dựng các dự án vệ sinh môi trường hiện nay chưa khoa học, chưa có tầm nhìn xa. Nếu 2 bãi chôn lấp rác Gò Cát và Phước Hiệp (Củ Chi) ngưng tiếp nhận rác đúng thời hạn thì trên 5.000 tấn rác mỗi ngày sẽ đổ đi đâu khi bãi rác Đa Phước (dự kiến đến tháng 3-2007 tiếp nhận rác) đến nay vẫn chưa xong phần đền bù giải tỏa? Nói công nghệ xử lý rác tại Gò Cát hiện đại là không đúng vì hiện đại nhưng tại sao lại phát sinh mùi hôi cả năm nay không xử lý được? Ông Hoàng khẳng định, đến thời điểm này mà chưa có dự án thì hết mùa mưa cũng chưa thể nói được điều gì.


Theo các bác là nguyên nhân do đâu??


Hồ chứa nước rỉ rác được cho là nguyên nhân phát tán mùi hôi tại bãi rác Gò Cát. Ảnh: HỒ VIỆT


Chở nước rỉ rác từ bãi rác Gò Cát đi xử lý tại bãi rác Đông Thạnh. Ảnh: H.V.

Nói về công nghệ xử lý rác ở bải rác Gò Cát là hiện đại nhất VN có thể đúng, nhưng phù hợp thì không và các chuyên gia Hà Lan nhận định rác Việt Nam khác rác Hà Lan là hoàn toàn chính xác nhưng vấn đề ở chỗ tại sao biết vậy mà lại áp dụng công nghệ Hà Lan cho VN? để mà xảy ra sự cố ? như vậy hoặc là các chuyên gia này quá kém hoặc là các nhà quản lý của ta quá kém để nhận công trình này.
Sự khác biệt lớn nhất gây hậu quả cho bải rác là rác của các nước phương Tây đều được phân loại rất kỹ trước khi vận chuyển đến bãi chôn lấp, thông thường bãi chôn lấp chôn những loại rác không thể tái sinh, không phải là rác nguy hại, không phải là thành phần hữu cơ phân hũy... tóm lại là rác chiếm thành phần chủ yếu là vô cơ, khó phân hũy. Do đó thành phần ô nhiễm sẽ khác rất nhiều với rác hỗn tạp như của chúng ta với thành phần chất hữu cơ phân hũy rất lớn kèm theo độc tố rất cao.
Chính vì sự khác biệt lớn này mà công nghệ đang áp dụng tuy có bài bản nhưng cũng không phù hợp gây nên nhiều lãng phí, nhất là hệ thống xử lý nước thải rỉ rác, đầu tư rất tốn kém nhưng công suất hiện nay chỉ xử lý được 40 m3/ngày so với lượng nước phát sinh 400m3/ngày
Vấn đề cốt yếu gây sự không phù hợp của hệ thống không phải tồn tại ở nội bộ trạm xử lý rác, nếu ta đầu tư thêm vào bãi Gò Cát thỉ cũng chỉ tổ tốn thêm tiền mà cũng chẳng mang được lợi ích gì lớn hơn ngoài việc giảm thiểu bớt ô nhiễm tại chỗ. Chúng ta hãy nhìn bao quát hơn về vấn đề xử lý rác, phải định hướng từ khâu thu qom, quản lý vận chuyển, phân loại và xử lý ngay từ đầu. Phải có chiến lược, qui hoạch và qui định và chương trình quản lý cụ thể thì mới mong có được những bãi rác tốt.
Mình nghĩ nguyên nhân là do thiếu trách nhiệm của mấy thằng ở khâu thiết kế hệ thống xử lý công trình nước rỉ rác bãi chôn lấp Gò Cát,ko xử lý đúng theo công suất thiết kế dự tính ban đầu thì nói rằng công nghệ Hà Lan ko thích hợp.Đó là sự biện minh ko chính xác và ko có cơ sở. Tốn tiền của nhân dân hàng trăm tỉ đồng chỉ để nhận vài câu nói vô trách nhiệm của mấy thằng cha đó.Ô nhiễm mùi hôi thì nhân dân xung quanh khu vực bãi rác phải gánh chịu tất cả.
Mình đang giám sát hệ thống xử lý nước rỉ rác nên hiểu rõ chuyện này,có những công nghệ trong nước rất đơn giản và hiệu quả xử lý khá cao và đạt TCVN-loại B nhưng có mấy cha đó có đề cập đến đâu, đi tìm CN nước ngoài nghe cho oai và "kiếm chút cháo".
Vấn đề này còn kéo dài ít nhất là đến năm 20010.....
Điều này hoàn toàn chính xác vì không ai lại đem công nghệ màng lọc nano để xử lý nước thải có nồng độ nhiễm bẩn cao như bải rác cả, đặc biệt là yêu cầu tiên quyết của màng lọc có ghi chần dzần các giới hạn chỉ tiêu đầu vào cho màng lọc nhỏ hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn đầu ra (nguồn loại B). Một nghịch lý như vậy mà không hiểu sao chẳng ai thấy khi duyệt hồ sơ thiết kế.
Chính điều này đã làm cho hệ thống rất nhanh tắc nghẽn và giảm công suất hệ thống tức thì, nên chỉ còn khoảng 2m3/h mà thôi.
Sáng nay đọc báo thấy có tin Sở đồng ý cho trường ĐH Nông Lâm tiến hành khảo sát thực tế tại bãi rác Gò Cát để nghiên cứu ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver trong việc xử lý nước rỉ rác.Nghe nói loại cỏ này có thể hấp thụ kim loại nặng trong nước và đất
 
Top