Ứng dụng Gom Rác GRAC

Vấn đề xử lý nước rỉ rác ở thành phố Hồ Chí Minh

#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
Rác ở Thành phố được dồn về 4 bãi rác đang hoạt động, đó là: bãi chôn lấp Phước Hiệp, Đa Phước, mỗi bãi có công suất tiếp nhận 3.000 tấn/ngày; bãi chôn lấp Gò Cát công suất tiếp nhận 2.000 tấn/ngày; bãi chôn lấp Đông Thạnh hiện tại chỉ tiếp nhận rác sinh hoạt công suất 1.000 tấn/ngày. Với hàng ngàn tấn rác được chôn lấp hàng ngày, Công ty Môi trường đô thị Thành phố đã dùng nhiều biện pháp xử lý và khắc phục ô nhiễm như phun các chế phẩm sinh học chống phát tán mùi, chống ruồi... Nhờ vậy, môi trường của bãi rác cũng được cải thiện rất nhiều so với những năm trước. Nhưng cứ 10 tấn rác được chôn lấp trong một ngày/đêm, rỉ ra 1m3 nước rác với đủ các tạp chất và mùi hôi thối. Do đó, tại các bãi chôn lấp thường phát sinh một khối lượng nước rỉ rác rất lớn, nhất là trong mùa mưa. Giải pháp được tính đến ngay từ đầu là phủ lớp vải địa kỹ thuật dưới đáy các hố chôn lấp để tránh nguy cơ thẩm thấu nước rác vào đất và mạch nước ngầm, sau đó bơm dẫn nước ra khu xử lý riêng, trước khi thải ra ngoài môi trường.

ở bãi rác Gò Cát có nhà máy xử lý nước rỉ rác được xây dựng từ năm 2005, do một đối tác Hà Lan thiết kế, nhưng ít khi chạy hết công suất. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, công nghệ của nhà máy chỉ phù hợp đối với các nước phát triển, vì rác ở các nước này được phân loại một cách nghiêm ngặt, hàm lượng các chất ô nhiễm cũng không quá cao như ở thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị khác ở nước ta (rác hữu cơ thường chiếm 60-70%). Một chuyên gia về môi trường cho rằng, khi thiết kế, các chuyên gia Hà Lan có thể không tính đến thành phần rác thải ở Việt Nam, do chưa được phân loại, dẫn đến nước rỉ rác đưa vào trong hệ thống xử lý có khoảng dao động rất lớn về nồng độ, có nhiều tạp chất, nhất là hàm lượng hợp chất Amoniac (NH3) và chứa nhiều đất, cát, chất rắn lơ lửng, nên màng lọc Nano không thể xử lý được. Việc hỏng màng lọc Nano làm cho Công ty Môi trường đô thị Thành phố tiêu tốn hàng tỷ đồng. Không những thế, nhà máy có công suất thiết kế xử lý được khoảng 400 m3 nước rỉ rác/ngày, nhưng khi đưa vào vận hành thì chỉ xử lý được khoảng từ 20-50 m3 nước rỉ rác/ngày. Do đó, khối lượng nước rỉ rác tồn đọng ngày càng nhiều, có lúc lượng nước rỉ rác tồn đọng đến 60.000 m3. Một phần do công nghệ chưa thật sự phù hợp, một phần vì bãi rác Gò Cát sau nhiều năm sử dụng đã trở nên quá tải, tiếp nhận hơn 4 triệu tấn rác/năm, vượt xa công suất thiết kế (3,5 triệu tấn/năm). Trước tình hình này, Công ty Môi trường đô thị đã tăng cường phun xịt các chế phẩm EM xử lý mùi hôi và thay thế toàn bộ bạt phủ bằng tấm nhựa HDPE để ngăn nước mưa. Có lúc, Công ty còn dùng xe bồn vận chuyển khoảng 800 m3 nước rỉ rác từ bãi rác Gò Cát về bãi rác Đông Thạnh để xử lý. Nhưng đây cũng không phải là phương án hợp lý, vì hồ chứa nước rác ở Đông Thạnh cũng sắp quá tải.

Để giải quyết triệt để nước rỉ rác, mới đây Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho phép Công ty SEEN nghiên cứu xây dựng một hệ thống riêng biệt tại Gò Cát để xử lý toàn bộ lượng nước rỉ rác tồn đọng với công suất 200 m3/ngày. Trước đó, Công ty này đã xây dựng thành công một nhà máy xử lý nước rác tại bãi rác Nam Sơn - Hà Nội, vận hành tự động theo cơ chế kết hợp công nghệ sinh học và hóa học, phù hợp với sự thay đổi thành phần và hợp chất của nước rỉ rác đầu vào, đảm bảo có thể xử lý một cách tiết kiệm nhất. Công suất tối đa của nhà máy là 700m3 nước thải/ngày, đêm. Chi phí xử lý nước rác theo tính toán trong mùa khô cũng như mùa mưa chỉ khoảng 30-40.000 đồng/m3, bằng 1/3 so với công nghệ nước ngoài. Nước rỉ rác sau khi xử lý đã đạt tiêu chuẩn loại B và được phép thải ra môi trường.

Bên cạnh việc làm trên, thành phố Hồ Chí Minh đang đầu tư nhiều tiền của công sức để biến các bãi chôn lấp rác trở thành các “Công trường xử lý chất thải” hợp vệ sinh. Nhiều nhà máy xử lý chất thải rắn, nhà máy chế tạo phân bón và tái chế rác đang được xây dựng, nhằm phấn đấu giảm dần tỷ lệ chôn lấp đến năm 2010 còn 50%, và đến năm 2015 còn 30%. Việc quy hoạch, đền bù thu hồi đất và hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho các khu liên hợp xử lý chất thải rắn cũng đang được xúc tiến như khu liên hợp xử lý chất thải rắn ở tây bắc Củ Chi có diện tích 822 ha; Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước diện tích 640 ha; Khu quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ Thừa (Long An) diện tích 1.760 ha. Nhiều khu đang trồng cây xanh trong khi chờ lập dự án đấu thầu thiết kế, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường.

Trong khi thành phố Hồ Chí Minh hiện đang xây dựng các bãi rác trước kia thành Công trường xử lý chất thải, còn Hà Nội xây dựng bãi rác Nam Sơn thành khu liên hiệp xử lý chất thải với công nghệ, máy móc hiện đại nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, thì ở Singapo năm 1999, bãi rác cuối cùng trên đất liền đã đóng cửa. Với 370 triệu USD, Singapo đã xây dựng đảo chứa rác Semakau, rộng 350 hécta bằng cách nối đảo Pulau Semakau và đảo Pulau Sakeng qua con đập xây bằng đá dài 7km. Hàng ngày, hơn 2.000 tấn rác được các sà lan lớn chở vào đảo. Với công nghệ hiện đại, rác được tái chế, làm cho đảo chứa rác Semakau có thể chứa 63 triệu m3 rác, đủ đáp ứng nhu cầu chứa rác Singapo trong vòng 50 năm. Điều đặc biệt là, Singapo còn xây dựng đảo chứa rác này thành nơi du lịch. Sau nhiều năm hoạt động, đảo rác Semakau mới sử dụng hơn một nửa diện tích. Rừng đước và động thực vật trên đảo đã được các nhà môi trường và du lịch chăm sóc vẫn phát triển tốt. Một điều đáng ngạc nhiên là động thực vật sinh trưởng mạnh ở đảo Semakau và chất lượng không khí và nước ở đây rất trong lành. Các sinh vật biển phong phú đến mức đáng ngạc nhiên, có nhiều loại quý hiếm, không thể tìm thấy tại nơi nào khác ở Singapo. Các nhà môi trường ước tính ở đây có khoảng 55 loài chim quý hiếm. Từ tháng 7/2005, đảo Semakau mở cửa đón khách du lịch, họ có thể đến đây ngắm chim, câu cá, hoặc dạo chơi lúc thủy triều lên xuống. Semakau là đảo rác nhân tạo trên biển vừa để xử lý rác, vừa để du lịch đầu tiên trên thế giới.
nguồn lấy từ :http://irv.moi.gov.vn
 
Top