Ứng dụng Gom Rác GRAC
FACEBOOK GRAC TẶNG ĐỒ VÀ PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN

Xây dựng cơ sở quản trị rủi ro kỹ thuật trong sử dụng LPG

de^

Member
#1
An toàn hóa chất | an toàn lao động | Sự cố tràn dầu | Bộ ứng cứu tràn đổ 25L
Xây dựng cơ sở quản trị rủi ro kỹ thuật trong sử dụng LPG, an toàn lpg

XÂY DỰNG CƠ SỞ QUẢN TRỊ RỦI RO KỸ THUẬT TRONG SỬ DỤNG LPG
Để góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho công tác bảo đảm an toàn, phòng ngừa SCMT trong sử dụng LPG ở Việt Nam, luận án thực hiện xây dựng cơ sở quản trị rủi ro kỹ thuật (Total Engineering Risk Management-TERM) để đề ra giải pháp bảo đảm an toàn, phòng ngừa SCMT một cách đồng bộ, hệ thống xuất phát từ thực tiễn trong sử dụng LPG ở Việt Nam như đã phân tích ở chương I.

Để làm rõ hơn vai trò của bảo đảm an toàn, phòng ngừa sự cố do thiết bị chứa LPG gây ra, luận án đề xuất khái niệm “an toàn môi trường thiết bị” và cách phân lọai thiết bị theo 3 cấp an toàn của thiết bị như trình bày sau đây:

Đề xuất khái niệm an toàn môi trường thiết bị
Sử dụng LPG có nhiều nguy cơ gây sự cố nên cần có các giải pháp bảo vệ thiết bị chứa nó để con nguời và môi trường không bị những tác động do sự cố gây ra. Đây chính là mục tiêu cuối cùng mà luận án hướng đến. Con người chịu tác động của các sự cố trong sử dụng thiết bị, nhưng, như đã trình bày, chính con nguời cũng có thể là nguyên nhân gây ra các sự cố trong sử dụng thiết bị chứa LPG. Do vậy, để bảo đảm an toàn môi trường thiết bịtrong sử dụng LPG, cần phải chú ý tới yếu tố con người. Tuy nhiên, nếu chỉ lo bảo đảm an toàn con nguời dưới góc độ an toàn lao động liên quan tới con nguời, mà không chú ý tới vấn đề BVMT, khi sự cố trong sử dụng LPG xảy ra, cùng với những thiệt hại về con nguời, tài sản là những ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường. Bởi lẽ, môi trường, đến lượt nó, cũng có những tác động có thể gây mất an toàn cho thiết bị. Do vậy, khi môi trường được bảo vệ, có nghĩa là thiết bị cũng được bảo vệ, không xảy ra sự cố; khi đó, con nguời cũng được bảo vệ. Để tích hợp các mục tiêu bảo đảm ATLĐ với BVMT liên quan tới thiết bị trong sử dụng LPG, luận án đề xuất biểu diễn mối quan hệ giữa 3 vấn đề an toàn thiết bị - an toàn con người - an toàn môi trường với an toàn thiết bị là trung tâm như hình 4.42 và đề xuất khái niệm “an toàn môi trường thiết bị” nhằm thể hiện sự tích hợp các vấn đề. Như vậy, đánh giá an toàn trong sử dụng LPG dựa vào 3 nhóm yếu tố chủ yếu là: yếu tố người sử dụng thiết bị, yếu tố thiết bị công nghệ và yếu tố môi trường. Đây chính là 3 nguyên nhân gây SCMT trong sử dụng LPG.


Sơ đồ biểu diễn quan hệ
an toàn thiết bị-an toàn con người-an toàn môi trường

Mức độ nguy hiểm tổng hợp Pc của cả 3 yếu tố gây sự cố trong sử dụng LPG được trình bày trong công thức 4.38:


Ở đây:

  • PN là mức độ nguy hiểm do yếu tố con người;
  • PT là mức độ nguy hiểm do yếu tố thiết bị công nghệ;
  • PM là mức độ nguy hiểm do yếu tố môi trường.
Khi đề cập đến nguyên nhân dẫn tới sự cố, luận án phân các yếu tố trên thành ba nhóm chính gồm thiết bị, con người và môi trường (là các yếu tố còn lại và được hiểu theo nghĩa rộng). Dựa vào bản chất của ba nhóm yếu tố là nguyên nhân gây ra sự cố, có thể do một, hai hoặc cả ba nhóm để phân tích ảnh hưởng của từng nhóm yếu tố và tính được lần lượt xác xuất khả năng của cả ba nhóm đó về xác xuất có thể gây ra sự cố bằng lý thuyết kết hợp với khảo sát thực tế và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây. Trên cơ sở phân tích này, luận án cho rằng khái niệm an toàn môi trường thiết bị mang ý nghĩa bao quát hơn trong quản trị rủi ro và đề xuất giải pháp phòng ngừa SCMT trong sử dụng LPG.

Đề xuất tiêu chí và cách phân loại bồn chứa LPG theo mức độ an toàn
Tuỳ theo tiêu chí mà thiết bị chứa LPG được phân loại theo nhiều cách khác nhau như đã được trình bày trong phần ... và các cách phân loại khác. Trong luận án này, liên quan tới đánh giá SCMT do thiết bị chứa LPG gây ra có một yếu tố rất quan trọng là thiết bị chứa LPG có thoả mãn các yêu cầu về ATMT hay không? Trên cơ sở thực tế sử dụng LPG ỏ Việt Nam, luận án đề xuất tiêu chí và cách phân lọai thiết bị chứa LPG thành 3 cấp như sau:

Tiêu chí phân loại
Xây dựng tiêu chí phân loại thiết bị theo mức độ an toàn là tiêu chí để tác động một cách hợp lý, phù hợp với quy luật và thực tế, mang lại hiệu quả bảo đảm an toàn thiết bị – một trong ba yếu tố của an toàn môi trường thiết bị. Thực tế sử dụng LPG ở Việt Nam cho thấy các thiết bị chứa LPG có mức độ an toàn khác nhau. Có loại có mức độ an toàn cao, như thiết bị chứa LPG của kho, tổng kho tồn trữ và phân phối LPG; có loại có mức độ an toàn thấp, dễ xảy ra sự cố như bình gas của cơ sở san chiết gas bất hợp pháp. Do vậy, luận án đề nghị lấy mức độ an toàn của thiết bị trong sử dụng LPG làm tiêu chí phân loại thiết bị chứa LPG.

Phân loại
Căn cứ vào tiêu chí phân loại thiết bị trong sử dụng LPG được đề xuất trên đây, luận án phân loại thiết bị làm 3 cấp như sau:

  • Thiết bị chứa LPG cấp I: thiết bị chứa LPG có độ an toàn rất cao, ví dụ: các bồn chứa ở các tổng kho phân phối LPG, bồn chứa LPG mới được phép lưu hành trên thị trường bởi các đơn vị có uy tín.
  • Thiết bị chứa LPG cấp II: thiết bị chứa LPG có độ an toàn cao, ví dụ: bình gas đang sử dụng được phép lưu hành trên thị trường; bồn chứa LPG công nghiệp.
  • Thiết bị chứa LPG cấp III: thiết bị chứa LPG không bảo đảm an toàn, ví dụ: bồn chứa LPG cũ được nhập từ nước ngoài, bồn chứa LPG được thiết kế, chế tạo, lắp đặt không đáp ứng các yêu cầu an toàn, bồn chứa LPG không rõ nguồn gốc.
Hình 4.45 cho thấy hình ảnh số lượng thiết bị theo từng cấp an toàn trong sử dụng LPG ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có dạng hình tháp như hình 4.43


Số lượng thiết bị theo mức độ an toàn trong sử dụng LPG
Dự báo sự thay đổi của thiết bị chứa LPG theo thời gian
Những sai sót mang tính hệ thống trong khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, quản lý sử dụng LPG có thể dẫn đến những sự cố, thậm chí là những thảm họa công nghiệp như đã được nêu trong chương I. Do vậy, cần phải đánh giá hiện trạng, phân tích nguyên nhân và đưa ra những dự báo nhằm nâng cao tính an toàn, thực hiện các giải pháp khắc phục kịp thời các sai sót này trên cơ sở vận dụng nguyên lý ALARP trong sử dụng LPG theo từng giai đoạn khác nhau của sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Hiện có nhiều phương pháp dự báo SCMT như: phương pháp chuyên gia; phương pháp phân tích sự kiện; phương pháp xác suất thống kê; phương pháp so sánh … như đã trình bày trong chương I. Trong luận án này, trên cơ sở áp dụng quy luật ứng dụng tiến bộ KH-KT vào sản xuất [65], luận án đề xuất phương pháp dự báo sự thay đổi về chất và lượng của thiết bị chứa LPG theo thời gian như sau: Gỉa sử, tại thời điểm khảo sát có N thiết bị, số thiết bị trong mỗi loại được phân theo 3 cấp an toàn như đã đề xuất ở trên lần lượt là: n1, n2, n3, ta có hệ số tính theo % mỗi cấp là:


Xu hướng phát triển của xã hội là sẽ tăng số lượng thiết bị có độ an toàn cao và giảm lượng thiết bị có độ an toàn thấp. Mức độ biến đổi của quy luật này phụ thuộc vào điều kiện KT-XH, trình độ KH-CN, trình độ tổ chức, quản lý …

Theo thời gian, khi ứng dụng tiến bộ KH-KT-CN, giá trị của hệ số k1 (nhóm thiết bị có mức an toàn cấp I), ngày càng tiến dần tới 100%. Mức độ thay đổi theo hướng gia tăng của k1 phụ thuộc vào quy luật ứng dụng tiến bộ KH-KT vào sản xuất và đường biểu diễn sự thay đổi này có dạng đường cong chữ S. Phương trình biểu diễn sự thay đổi của k1 được giới thiệu ở công thức sau [65]:


Trong đó:

  • t: thời kỳ (năm);
  • A, m: Hệ số đặc trưng mức độ tăng số lượng thiết bị có mức an toàn cao, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, kỹ thuật và tình trạng ban đầu …
Ngược lại, theo thời gian, giá trị của hệ số k3 (nhóm thiết bị có mức an toàn cấp III) sẽ giảm dần tới 0. Xu hướng giảm dần của k3cũng phụ thuộc vào quy luật ứng dụng tiến bộ KH-KT vào sản xuất và đường biểu diễn sự thay đổi này có dạng đường cong chữ S. Phương trình biểu diễn sự thay đổi của k3 có dạng như sau [65]:


Trong đó: B, n: Hệ số đặc trưng mức độ giảm số lượng thiết bị không đạt yêu cầu an toàn, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, kỹ thuật và tình trạng ban đầu …

Còn giá trị của hệ số k2 (nhóm thiết bị có mức an toàn cấp II), phụ thuộc vào sự thay đổi của số lượng thiết bị có mức an toàn cấp cấp I và cấp III, lúc đầu tăng, sau đó giảm dần. Phương trình biểu diễn k2 có dạng như công thức sau [65]:


Tổng hợp đồ thị biểu diễn hệ số tính theo % lượng thiết bị theo cấp an toàn biến động theo thời gian được trình bày ở đồ thị hình 4.39. Đồ thị biểu diễn một cách định tính các sự biến đổi này có dạng đường cong chữ S [65].

Từ đồ thị 4.44 ta thấy, mức độ an toàn trong sử dụng thiết bị chứa LPG thay đổi theo thời gian như sau:

Số lượng thiết bị có mức an toàn thấp nhất (cấp III) sẽ dần được thay thế bằng thiết bị có cấp an toàn cao hơn (cấp II hoặc cấp I). Nếu thiết bị loại III chưa chuyển ngay về cấp I hoặc cấp II thì cần phải áp dụng các biện pháp (kỹ thuật, tổ chức, quản lý …) để phòng ngừa sự cố và giảm thiểu thiệt hại nếu sự cố xảy ra. Tuy nhiên, luận án cho rằng đây chỉ là giải pháp tình thế, cần tiến hành các biện pháp loại trừ rủi ro. Đồ thị biểu diễn tỷ lệ thiết bị có mức an toàn cấp III (đường cong k3) cho thấy thiết bị có mức an toàn cấp III sẽ giảm dần theo thời gian.




Đồ thị biểu diễn sự thay đổi tỷ lệ lượng thiết bị theo thời gian


Số lượng thiết bị có mức an toàn cấp II là mức chấp nhận được sẽ tiếp tục được duy trì bằng các biện pháp phòng ngừa sự cố hoặc sẽ được hoàn thiện để đạt mức an toàn cấp I (nhưng sẽ rất khó khăn khi thực hiện sự hoàn thiện này, nên chỉ thực hiện được khi điều kiện kinh tế, kỹ thuật … cho phép) hoặc được thay thế bằng thiết bị cấp I trong một số trường hợp đặc biệt và cũng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, kỹ thuật. Đồ thị biểu diễn tỷ lệ thiết bị có mức an toàn cấp II (đường k2) lúc đầu tăng (do thiết bị có mức an toàn cấp III trở thành cấp II), nhưng sau đó giảm vì loại thiết bị này cũng sẽ được hoàn thiện hoặc thay thế để dần tiến tới thiết bị cấp I.

Số lượng thiết bị có mức an toàn cấp I (đường cong k1) tăng dần theo thời gian vì thiết bị loại này ngày càng được trang bị nhiều hơn khi một số ngành công nghiệp quan trọng ngày càng phát triển; cũng như khi các thiết bị có cấp an toàn cấp II, III được hoàn thiện hoặc thay thế để trở thành thiết bị có cấp an toàn cấp I.

Xây dựng cơ sở quản trị rủi ro kỹ thuật trong sử dụng LPG
Trên cơ sở khoa học của quản trị rủi ro (QTRR)

Tài liệu tham khảo [30], [47], [95], [100], [130], [145]
; quản lý an toàn, môi trường
Tài liệu tham khảo [1], [38], [46], [53], [65]
;
thực tiễn và các kết quả nghiên cứu về ATMT công nghiệp [22], [37], đề tài nghiên cứu về bảo đảm an toàn, phòng ngừa SCMT trong sử dụng LPG tại Tp.Hồ Chí Minh [57], [59] luận án đã xây dựng công cụ tích hợp mang tên gọi “Quản trị rủi ro kỹ thuật” (Total Engineering Risk Management-TERM) trong sử dụng LPG như trình bày trong lưu đồ hình 4.45



Lưu đồ quản trị rủi ro kỹ thuật
Né tránh rủi ro
Né tránh rủi ro là ưu tiên số 1 trong QTRR. Muốn vậy, phải phát hiện được những nguy cơ có thể xảy ra SCMT trong sử dụng LPG. Nội dụng cơ bản của phần nhận diện nguy cơ đã chỉ ra các nguy cơ và mức độ nguy hại của sự cố trong sử dụng LPG. Đây là quá trình liên tục, có hệ thống nhằm nhận dạng đối tượng rủi ro, nguy cơ gây rủi ro và các loại tổn thất ... Né tránh rủi ro trong sử dụng LPG có thể áp dụng một số giải pháp như: loại trừ hoặc gỉam thiểu sự xuất hiện nguồn gây sự cố bằng cách thay thế công nghệ có sử dụng LPG bằng công nghệ không sử dụng LPG; gỉam thiểu nguồn kích thích gây cháy, nổ như: nguồn nhiệt, mồi lửa…tại nơi sử dụng LPG; gỉam thiểu tác động cơ học (va chạm xe bồn chở LPG, vật rơi, đổ, sập, văng bắn vào bồn chứa LPG…). Cần lưu ý đề phòng sự xuất hiện của nguồn nhiệt gây sự cố ẩn như do nhiệt độ hoặc/ và áp suất tăng, do tàn lửa, do tia lửa điện, do ma sát xuất hiện bất ngờ …Đây chính là những mối nguy gây SCMT rất hay gặp trong thực tế sử dụng LPG ở Việt Nam nhưng chưa được đề cập nhiều trong các tài liệu chuyên ngành. Các cơ sở chế biến và sử dụng LPG cần được lập báo cáo ĐTM có định lượng về tác động của sự cố như đã trình bày trong phần 4.2 với sự tham gia của các chuyên gia. Đây là công cụ quan trọng để quản lý môi trường theo phương cách pháp lý nhằm giảm thiểu SCMT.

Kiểm soát rủi ro
Nếu không né tránh được rủi ro, cần tiến hành kiểm soát rủi ro để phòng ngừa sự cố xảy ra. Để thực hiện tốt công tác này, cần tích hợp hai phương pháp quản lý thiết bị trong sử dụng LPG. Đó là: quản lý thiết bị theo quá trình (MBP-Management By Process) và quản lý thiết bị theo mục tiêu (MBO-Management By Object) trong quản lý SCMT [53]. Đây là giai đoạn trọng tâm của quản lý SCMT, cần đáp ứng yêu cầu an toàn hệ thống và yêu cầu an toàn nội tại các thiết bị chứa LPG. Sau đây là một số việc cần thực hiện để kiểm soát rủi ro một cách hữu hiệu:

  1. Thành lập ban quản trị sự cố
Đối với các cơ sở sử dụng LPG, ban quản trị sự cố thuộc bộ phận an toàn, trong đó có chuyên gia am hiểu về LPG.

  1. Lập kế hoạch quản trị sự cố
Kế họach qủan trị sự cố được lập khi xây dựng kế họach BHLĐ của cơ sở.

  1. Đáp ứng yêu cầu an toàn nội tại
Vấn đề an toàn nội tại phải được quan tâm trước hết. thiết bị chứa LPG cần phải bảo đảm an toàn ngay từ khâu thiết kế, chế tạo, lắp đặt và tiếp tục được kiểm tra, bảo dưỡng thường xuyên trong quá trình sử dụng. Các thiết bị an toàn và BVMT được thực hiện nhằm giảm thiểu SCMT do thiết bị chứa LPG gây ra.

  1. Hướng dẫn, huấn luyện, đào tạo về ATMT trong sử dụng LPG
Công tác huấn luyện về ATLĐ chung được thực hiện theo thông tư số 37/2005 TT-LĐTBXH ngày 29/12/2005 của Bộ LĐ-TB-XH về việc hướng dẫn ATLĐ-VSLĐ. Trên cơ sở tham khảo đề cương bài giảng về vấn đề này của các đơn vị huấn luyện [164], kết hợp với quan điểm về an toàn môi trường thiết bịcùng kết quả nghiên cứu về ATMT trong sử dụng LPG đã trình bày, luận án cho rằng đối với giao nhận, vận chuyển LPG bằng xe bồn cần bổ sung nội dung về an toàn trong GTVT trong chương trình đào tạo [5] nhằm đảm ATLĐ, ATXH và ATMT.

  1. Thực hiện công tác đăng ký, kiểm định KTAT các thiết bị
Mục đích của kiểm định KTAT thiết bị chứa LPG là nhằm đánh giá chất lượng thiết bị, xác định sự thỏa mãn các yêu cầu và thông số về độ bền, độ tin cậy của toàn bộ thiết bị đến an toàn của quá trình vận hành. Trước khi đưa vào sử dụng, các thiết bị chứa LPG sẽ được kiểm định tại các TT kiểm định KTAT. Nếu kết quả kiểm định đạt yêu cầu, thiết bị sẽ được cấp giấy chứng nhận kiểm định và chuyển qua cơ quan thanh tra lao động địa phương (bộ phận thanh tra KTAT) làm thủ tục đăng ký sử dụng. Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận kiểm định từ cơ quan kiểm định và hoàn thành thủ tục đăng ký sử dụng tại cơ quan thanh tra lao động địa phương, thiết bị được phép đưa vào sử dụng theo thông số và thời gian ghi trong giấy chứng nhận kiểm định. Thời gian sử dụng cho từng chu kỳ áp dụng cho từng loại thiết bị được quy định cụ thể trong các TCVN tương ứng về TBAL nói chung và về LPG nói riêng. Hết thời gian sử dụng trong giấy chứng nhận, thiết bị bắt buộc phải được tái kiểm định.

Các tiêu chuẩn áp dụng là các TCVN chuyên ngành về LPG như: TCVN 6484:1999-Khí đốt hóa lỏng-Xe bồn vận chuyển-Yêu cầu an toàn về thiết kế, chế tạo, sử dụng [72], TCVN 6486:1999-Khí đốt hóa lỏng-Tồn chứa dưới áp suất-Vị trí, thiết kế, dung lượng và lắp đặt [73], TCVN 7441:2004-Hệ thống cung cấp khí dầu mỏ hóa lỏng tại nơi tiêu thụ - yêu cầu thiết kế, lắp đặt và vận hành [74]; tham chiếu các tiêu chuẩn về an toàn TBAL [68], [69], [70], [71]. Ngoài ra, có thể tham khảo các tiêu chuẩn nước ngoài như AS 1596 - 1989 – Bảo quản và tồn chứa khí dầu mỏ hóa lỏng của Australia [109], NFPA 58 – Tồn chứa và vận chuyển khí dầu mỏ hóa lỏng của Hoa Kỳ [147] …Công tác kiểm định là công việc phòng ngừa sự cố xảy ra đối với các thiết bị chứa LPG, do vậy, tổ chức kiểm định cần tuân thủ đúng quy trình kiểm định. Bộ LĐ-TB-XH đã ban hành quy trình kiểm định KTAT các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, trong đó có thiết bị chứa LPG. Văn bản này quy định quy trình kiểm định KTAT lần đầu, định kỳ và bất thường hệ thống điều chế (hoặc tồn trữ) khí, khí hoá lỏng, khí hoà tan (gọi chung là hệ thống điều chế, nạp khí) nạp vào các bình, chai. Quy trình quy định những công việc phải thực hiện và những lưu ý trong quá trình kiểm định hệ thống điều chế, nạp khí. Quy trình kiểm định gồm các bước sau:

  • Kiểm tra hồ sơ kỹ thuật thiết bị;
  • Kiểm tra tình trạng khu vực đặt thiết bị;
  • Kiểm tra các thiết bị an toàn và thiết bị phụ trợ;
  • Khám xét bên trong và bên ngoài thiết bị để xác định tình trạng kỹ thuật;
  • Thử bền nhằm đánh giá độ bền của thiết bị;
  • Thử kín nhằm đánh giá độ kín của thiết bị.
Quy trình kiểm định được trình bày trong hình 4.46 [164].




Sơ đồ quy trình kiểm định thiết bị chứa


  1. Thanh tra ATMT trong sử dụng LPG
Văn bản pháp lý để thực hiện thanh tra là quyết định số 36/2006/QĐ-BCN ngày 16 tháng 10 năm 2006 của bộ công nghiệp; các tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6153:1996, TCVN 6154: 1996, TCVN 6155:1996, TCVN 6156: 1996, TCVN 6304:1997, TCVN 6485:1999, TCVN 6486:1999 và một số văn bản khác …

Xây dựng cơ sở quản trị rủi ro kỹ thuật trong sử dụng LPG
Chấp nhận rủi ro
Trong nhiều trường hợp, nhiệm vụ bảo vệ con người và môi trường chưa được thực hiện triệt để do chi phí đầu tư thấp. Bên cạnh đó, việc loại trừ các tác động có hại đó có thể gây trở ngại đối với quá trình sản xuất. Do vậy, nếu không phòng ngừa được rủi ro thì phải chấp nhận nó ở mức thực tế có thể chấp nhận được theo nguyên lý ALARP như đã trình bày ở trên.

Chuyển giao rủi ro
Sử dụng công cụ kinh tế để giảm thiểu thiệt hại nếu xảy ra các SCMT do thiết bị chứa LPG gây ra, trong đó, biện pháp đền bù thiệt hại là một trong những biện pháp hữu hiệu. Chuyển nguy cơ phải đền bù thiệt hại từ cơ sở sử dụng LPG có khả năng gây SCMT sang công ty bảo hiểm thông qua hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ và rủi ro kỹ thuật đặc biệt.

Gỉam thiểu rủi ro
Từ kết quả nghiên cứu về xác định công sinh ra khi nổ, khả năng lan truyền của đám mây hơi LPG, lượng nhiệt sinh ra … trong chương III, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản và môi trường nếu xảy ra sự cố mặc dù đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa như trình bày sau đây:

  • Quy hoạch cơ sở sử dụng LPG hợp lý
  • Khi lắp đặt thiết bị chứa LPG cần bảo đảm khỏang cách an toàn về cơ học, nhiệt học, môi trường để giảm thiểu tác động đối với con nguời và môi trường.
  • Xây dựng tường chắn hoặc đặt bồn chứa LPG ngầm. Gỉai pháp này đựơc áp dụng ở Pháp, Mỹ và một số nơi trên thế giới [115].
  • Sử dụng LPG có thành phần chủ yếu là butane để LPG áp suất bão hòa thấp: ở cùng nhiệt độ, propane có áp suất cao hơn áp suất của butane.
  • Sử dụng sử dụng nhiều thiết bị chứa LPG có thể tích nhỏ thay vì một bồn LPG có dung tích lớn hoặc/và giảm số lượng bồn LPG nếu có thể;
  • Thực hiện đúng quy định mức nạp LPG lỏng tối đa trong thiết bị là 80% dung tích thiết bị.
  • Bố trí bồn chứa LPG cuối hướng gió chủ đạo…
  • Xây dựng kế họach đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp
Kế họach đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp (ERP-Emergency Response Plan) cần được quản lý, giám sát thực hiện và điều chỉnh nếu có thay đổi, đảm bảo sẵn sàng đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp thông qua việc lập và thực hiện các khóa huấn luyện định kỳ đối với các tình huống nguy hiểm đã xác định. Sau đây là một số vấn đề cần lưu ý trong quản lý ERP [86]:

  • Lập kế hoạch đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp
ERP được thiết lập dựa trên kết quả QRA. Kế hoạch này mô tả các biện pháp sẽ được áp dụng trong các tình huống nguy hiểm. ERP cần được cập nhật thường xuyên và được triển khai như một phần của công tác triển khai đề án, hoặc khi thay đổi phạm vi hoạt động, dừng hoạt động và hủy bỏ công trình, cải tạo lớn, thay đổi tổ chức và nhân sự ...

Để đảm bảo hiệu quả, ERP cần có những nội dung cơ bản sau đây:

  • Mô tả và phân loại các tình huống nguy hiểm và tai nạn;
  • Mô tả sơ đồ tổ chức đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp, trách nhiệm của mỗi cá nhân liên (cho từng tình huống nguy hiểm và tai nạn);
  • Thông tin trong trường hợp khẩn cấp với các bộ phận nội bộ và các cơ quan bên ngoài (chính quyền địa phương, cơ quan PCCC…);
  • Mô tả lực lượng nội bộ và bên ngoài sẽ huy động khi xảy ra sự cố;
  • Kế hoạch khôi phục hoạt động bao gồm công tác điều tra, đánh giá nguyên nhân và hậu quả … để tái lập và nâng cao mức an toàn của công trình.
  • Thiết lập hệ thống đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp
Cơ sở cần đảm bảo hệ thống đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp được thiết lập và duy trì hoạt động hiệu quả. Cơ quan có thẩm quyền phải được thông báo khi xảy ra sự cố gây thiệt hại về người, tài sản và môi trường. Hệ thống đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp của một dự án bao gồm các yêu cầu cơ bản sau đây:

  • Khả năng di chuyển tới các khu vực an toàn, phương tiện sơ tán và cứu sinh;
  • Độ tin cậy của hệ thống đóng ngắt khẩn cấp và phương tiện liên lạc;
  • Khả năng di chuyển đến và vận hành hệ thống cứu hỏa;
  • Năng lực sơ cứu và chăm sóc sức khỏe; trú ẩn và phương tiện sơ tán người;
  • Ứng cứu khẩn cấp trong trường hợp tai nạn như rò rỉ, cháy, nổ LPG.
  • Duy trì hệ thống đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp
Hệ thống quản lý an toàn của cơ sở sản xuất cần đảm bảo duy trì hiệu quả của hệ thống đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp trong hoạt động của mình.

  • Hoàn thiện hệ thống đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp
Hệ thống đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp cần được cải tiến một cách có hệ thống và thường xuyên dựa trên cơ sở đánh giá một cách hệ thống các kinh nghiệm thu được; dữ liệu từ kết quả điều tra sự cố của công trình và áp dụng kiến thức, sự phát triển công nghệ mới và thực tiễn.

  • Kiểm soát hệ thống đáp ứng trong trường hợp khẩn cấp
Các sai sót so với yêu cầu pháp luật và/hoặc các yêu cầu bắt buộc liên quan cần được làm rõ và điều chỉnh kịp thời thông qua kiểm soát một cách hệ thống.

  • Phục hồi hoạt động sau sự cố
  • Chuyển thiệt hại cho bên thứ ba, như: công ty bảo hiểm. Do vậy, cần thực hiện mua bảo hiểm cháy, nổ đối với các cơ sở có sử dụng LPG;
  • Xác định đối tượng quan trọng nhất để ưu tiên cho khả năng phục hồi;
  • Tìm kiếm nguồn lực và xác định công việc để tái sản xuất và sinh họat;
  • Xây dựng kế hoạch phục hồi lâu dài.
 
Top