Ứng dụng Gom Rác GRAC

xử lý kim loại nặng bằng phương pháp sinh học

daibangxanh

Well-Known Member
#1
Bộ ứng cứu tràn đổ hóa chất và môi trường
XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC (BIOAVAILABILITY) CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG CỦA KÊNH RẠCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


SVTH : HOÀNG THỊ TRÀ MY
MSSV : 90201614
CBHD : TS. HOÀNG THỊ THANH THUỶ
BỘ MÔN : KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN​


Sự tích tụ kim loại nặng trong bùn lắng tại các kênh rạch là vấn đề quan tâm hàng đầu khi thực hiện nạo vét các kênh rạch ô nhiễm. Theo kết quả nghiên cứu, đã có một số vị trí trên hệ thống kênh rạch Thành phố có sự tích tụ kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn như:
Cầu Chà Và của kênh Tàu Hũ-Bến Nghé. Cống xả Hoà Bình và Cầu Hậu Giang của kênh Tân Hoá-Lò Gốm.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu sự tích luỹ kim loại nặng trong bùn lắng nếu chỉ biết hàm lượng tổng số thì chưa thể đánh giá hết độ độc của chúng đối với môi trường sinh thái. Kim loại nặng trong bùn lắng có thể tồn tại ở dạng linh động hay có trong liên kết với cacbonat, liên kết với oxyt Fe-Mn, liên kết với chất hữu cơ, hoặc liên kết với các hợp chất Silicat bền vững. Hiểu được các dạng liên kết của chúng, tính tan và sự biến đổi của các kim loại nặng trong bùn lắng, sẽ làm rõ thêm mức độ ảnh hưởng của chúng đối với môi trường. Hiện nay đã có nhiều nhà khoa học ở trên thế giới áp dụng các phương pháp chiết tách khác nhau để tách hàm lượng tổng số của kim loại thành các dạng liên kết khác nhau. Tuy nhiên, trong các tài liệu tham khảo cũng đề nghị kiểm chứng thí nghiệm bằng các thực nghiệm trực tiếp trên thực vật hoặc động vật.

Với phương pháp chiết tách của Tessier và nnk,1979 và thực nghiệm trên cỏ Vetiver. Luận văn đã đạt được một số kết quả sau:
- Hàm lượng dạng linh động của Zn là cao (11,55-26,47%)
- Hàm lượng dạng linh động của Cu từ 0,114%-1,5%
- Hàm lượng dạng linh động của Cr cao nhất chỉ chiếm 0,05%

Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp tính linh động của kim loại Zn, Cr, Cu và % các hợp phần mà kim loại liên kết. Một tỷ lệ lớn của hàm lượng tổng của kim loại Zn được chiết tách ở dạng linh động (11,55-26,47%), kết quả này có thể dùng để đánh giá những rủi ro môi trường. Tuy nhiên, có một tỷ lệ lớn hợp phần dạng liên kết với các hợp chất của sắt oxyt và mangan oxyt đây là hợp phần cũng khá linh động trong môi trường. Phần trăm của kim loại nặng ở dạng liên kết với các hợp chất hữu cơ (pha dễ bị oxy hoá) thì ít hơn và những kim loại tồn tại trong dạng này thì sự hoà tan vào môi trưòng thấp và trong môi trường acid và oxy hoá mạnh thì những kim loại này dễ bị phóng thích vào trong môi trường. Cu liên kết chủ yếu với hợp chất hữu cơ trong môi trường (47,16-82,437%) tạo ra hợp chất bền. Cr liên kết với hợp chất Fe oxyt và Mangan oxyt là chủ yếu (51,8-96%), đây có thể xem là cơ chế chính trong việc cố định Cr. Khả năng linh động của Cr rất kém nên Cr hầu như không hoà tan vào trong nước, nếu có thì rất ít.
Sau khi trồng được 2 tháng cỏ Vetiver hấp thu kim loại nặng vào rễ Zn: 4850ppm; Cu: 455ppm; Cr: 118ppm

Kết quả thử nghiệm đã đưa ra kết quả sơ bộ kim loại nào có tỷ lệ hợp phần linh động cao thì hấp thu vào rễ của cỏ Vetiver cao. Đây là các thông tin cơ sở để thiết kế một hệ thống xử lý hoàn chỉnh để xử lý trầm tích sông rạch bị ô nhiễm kim loại nặng. Tác dụng của công nghệ xanh này nhằm phục hồi các con sông và kênh rạch “chết” ở Việt Nam

link download:
http://www.mediafire.com/?ltlmhzyzynt
LInk dự phòng:
http://rapidshare.com/files/250171182/PDF.rar.html
http://www.fileden.com/files/2007/10/26/1542977/PDF.rar
 

Chủ đề mới

Top